Có nên phân chia thế hệ trong văn chương hay không? Chẳng hạn, liệu có tồn tại những khái niệm như “tác giả thế hệ Z” hay “văn chương thế hệ Z”? Đó là câu hỏi chỉ những nhà nghiên cứu văn học mới có thể trả lời một cách tương đối thỏa đáng. Dù sao, khó có thể phủ nhận rằng những người viết sinh ra và lớn lên trong thời đại của số hóa và thuật toán mang những cảm thức khác biệt nhất định so với các thế hệ trước.
Bốn tác giả và dịch giả dưới đây không nhất thiết là những gương mặt tiêu biểu đại diện cho những người viết thuộc thế hệ Z. Họ chỉ là một phần nhỏ trong số đó. Trên thực tế, không ít người trẻ ở thời bây giờ vẫn âm thầm viết, nhưng lựa chọn những không gian hoạt động văn chương khác đi: mang tính “indie” nhiều hơn, như công bố sáng tác trên mạng xã hội, hay tổ chức những buổi trình diễn thơ trong các quán cà phê nhỏ.
Cả bốn nhân vật trả lời phỏng vấn trong bài viết này đều sinh từ năm 2000 trở đi; ba người trong số họ hiện vẫn đang ngồi trên ghế giảng đường. Trần Hữu Tùng (bút danh Nam Quảng Tử) vừa xuất bản tiểu thuyết đầu tay Đen, Trắng và Ánh nắng, tác phẩm mang về cho anh giải Nhất cuộc thi Sáng tác Mới lần thứ nhất do San Hô Books tổ chức. Huy Bảo là tác giả tập thơ Về khái niệm (NXB Hội Nhà Văn, 2024) và tập truyện ngắn Đơn giản nhất là biến mất (NXB Phụ Nữ Việt Nam & Phan Book, 2025). Vũ Ngọc Đan Linh thường xuyên có thơ xuất bản trên các tạp chí văn nghệ và đang ấp ủ ý tưởng cho tập thơ đầu tay. Cuối cùng, Bùi Gia Bin là dịch giả và đồng dịch giả của nhiều tác phẩm thuộc giai đoạn hiện đại sơ kỳ của văn chương thế giới như Ngắn (Melville), Một người tên là Thứ Năm (Chesterton), hay Tay điệp viên (Joseph Conrad), đều do FORMApubli phát hành tại Việt Nam.
Bài phỏng vấn này kỳ vọng, ở một mức độ nào đó, giúp độc giả hình dung rõ hơn về cảm thức văn chương của những người ở tuổi đôi mươi, trong bối cảnh công nghệ chi phối và tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống. Còn để thực sự hiểu văn chương và thế hệ của họ, không có cách nào khác ngoài việc trực tiếp đọc những tác phẩm và dịch phẩm của họ. Như Bùi Gia Bin chia sẻ, văn chương lớn thì không sợ thời gian. Có lẽ, đó là thứ vừa mang cảm thức thời đại, lại vừa phải vượt ra ngoài mọi ranh giới, nếu có, giữa các thế hệ và các thời đại.
Trần Hữu Tùng: “Tính chất văn chương của thế hệ không nên bao hàm cho bất cứ cá nhân nào hết”
Trong thời đại nghe-nhìn lên ngôi, nơi các lựa chọn “ngắn - sốc - nhanh” dường như chiếm ưu thế, việc một người ở tuổi đôi mươi viết và xuất bản một cuốn tiểu thuyết dày vài trăm trang, với anh, có phải là một lựa chọn khó khăn và đòi hỏi nhiều dũng cảm? Hay đó là điều gần như không thể khác đi?
Tôi thấy đó là điều không thể khác được. Tôi nghĩ dũng khí của một người viết sẽ xuất hiện ngay từ giây phút họ đã xác định rồi. Biết đâu nó đã có hiện hữu rồi không chừng. Chỉ cần gom đủ ý chí và viết xong một chữ cái đầu tiên thôi là đã đủ. Tạm thời ta chỉ nhắc tới sự khó khăn. Tôi luôn tôn trọng bất kỳ ai nói rằng bản thân sẵn lòng sống chết với chữ nghĩa của mình và thực sự làm như lời đã tuyên bố. Đại khái là sống thác hầu đặng viết. Nhưng, phải nói rõ như vầy, đó là tôi không đánh giá cao những người săm sắn quá lố với cái danh xưng tụng do chúng đặt. Tôi luôn ngó thiệt kỹ mấy người đó rồi tự soi lại mình. Bởi lẽ này mà tôi luôn nghi ngại với những tác phẩm đã hoàn thành của bản thân.

Above Nhà văn Trần Hữu Tùng
Trong “Đen, Trắng và Ánh nắng”, nhân vật chính là một người trẻ nhưng lại gắn bó với máy ảnh phim. Ngày nay, ngay cả những người không còn trẻ cũng hiếm khi còn sử dụng máy ảnh phim, huống chi là người trẻ…
Thật ra thì người trẻ bây giờ vẫn chuộng lối chụp hình phim. Có lẽ cảm giác tận hưởng việc lắp và chụp một cuộn phim mới khiến họ cảm thấy cơn sảng khoái trong mình tái hồi, từa tựa cảm xúc hân hoan của một đứa con nít được tặng đồ chơi mới vậy. Vả lại, “Đen, Trắng và Ánh nắng” được khởi thảo khoảng đâu đó cuối năm 2019. Thời điểm đó tôi cũng tập tành chụp hình phim. Chụp hình là một trong những cách giúp nhân loại lưu trữ được thời gian. Chụp hình phim lại mang một ý nghĩa khác hẳn khi nó mang tính chất thủ công, nghĩa là khi ta đang nhìn một tấm hình rửa từ âm bản thì tức là ta đang tái hiện lại góc nhìn của bản thân trong khoảnh khắc đó. Tuy nhiên, khi giá tiền của một cuộn phim không còn rẻ như trước thì ắt hẳn chẳng còn mấy ai cảm thấy mặn mà với niềm vui thú này nữa.
Khi nhắc đến cụm từ “văn chương thế hệ Z”, người ta dễ gắn nó với những đặc tính như “nhanh”, “hỗn loạn” hay “nổi loạn”. Tuy nhiên, tôi không tìm thấy những điều ấy trong tác phẩm của anh. Phải chăng vấn đề nằm ở chính cách chúng ta dán nhãn và vô tình giam văn chương của mỗi thế hệ vào những khung định sẵn?
Tôi không tự suy xét mình thuộc thế hệ viết nào. Điều đó có quan trọng không? Chắc tùy góc nhìn mỗi người. Hơn thảy, tính chất văn chương của thế hệ không nên bao hàm cho bất cứ cá nhân nào hết. Văn chương thế hệ Z vẫn bị quy liệu trở thành một nhóm người non nớt trong tiến trình văn học chung. Bởi lẽ đó, tất nhiên không gì thích hợp với người trẻ hơn những đặc tính như vậy. Điều đó không hẳn là xấu hay sái quấy gì hết. Giới trẻ luôn xảy ra mâu thuẫn với thế hệ tiền nhân và việc muốn tạo dựng một thứ gì đó khác biệt, phá cách, đôi lúc nặng tính canh tân cũng là lẽ thường tình. Vả lại, họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với các nền văn học khác. Nghe có hơi thiên vị nhưng tôi sẽ nói rằng các tác giả nước ngoài họ luôn để cho sợi bấc trong tim họ cháy hoài hoài. Đó là sự nhanh, sự hỗn loạn và sự nổi loạn đang được đề cập tới. Còn trong các tác phẩm của mình, tôi nghĩ rằng nếu muốn nổi loạn, hãy ngấm ngầm mà thực hiện.
Huy Bảo: “Khó có thể nói rằng đặt tên hay dán nhãn “văn chương thế hệ Z” là cần thiết hay không”
Chào Huy Bảo, nếu có một độc giả thuộc thế hệ khác đọc các sáng tác của anh và cảm thấy rằng “những gì tác giả này đang viết dường như chỉ có thể được cảm nhận trọn vẹn bởi những người cùng thế hệ với anh”, anh sẽ chia sẻ điều gì với họ?
Theo tôi đó là điều không thể tránh khỏi. Bản thân tôi cũng tự cảm thấy như vậy với các sáng tác của mình. Đồng thời khi tôi đọc các tác giả thuộc những thế hệ trước, tôi luôn nhận ra có một không gian hay bầu khí quyển trong tác phẩm chỉ có thể được nắm bắt bởi những người cùng thời họ. Điều tôi muốn nói là về mặt tiếp nhận. Tôi cho rằng sẽ không ai tiếp nhận được tác phẩm trọn vẹn hơn ai. Nhưng đồng thời, mọi cảm nhận đều là trọn vẹn, và là duy nhất. Độc giả có quyền quyết định mọi thứ.

Above Nhà thơ Huy Bảo
Theo anh, việc dán nhãn hay đặt tên “văn chương thế hệ Z” có thực sự cần thiết không? Tiếng nói văn chương của những người cùng thế hệ anh, theo anh, khác gì – hoặc không khác gì – so với các thế hệ trước?
Mỗi giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn chương hiển nhiên được hình thành từ chính các tác giả của thời đại đó. Khó có thể nói rằng đặt tên hay dán nhãn “văn chương thế hệ Z” là cần thiết hay không. Điều tôi nhận ra đó là thế hệ mình vẫn chưa có các phong trào văn chương mang tính tuyên ngôn như các nhóm Mở Miệng hay Ngựa Trời của 10 hay 20 năm trước, nhưng chuyện tuyên ngôn hay không tuyên ngôn thì liệu có quan trọng không? Khi quan sát, tôi thấy tác phẩm của các bạn bè xung quanh có những điểm chung nhất định về mặt ý thức, thi pháp, chủ đề. Tuy nhiên, nhận định của tôi dù sao vẫn sẽ có phần chủ quan, và cũng chẳng thể đại diện cho toàn bộ thế hệ này được.
Anh có bao giờ hình dung rằng thơ của mình sẽ “già đi” như thế nào cùng với tuổi tác và trải nghiệm sống của chính anh, chẳng hạn về giọng điệu, mối quan tâm, hay cách nhìn thế giới?
Thơ của tôi hay được các tác giả thế hệ trước nhận xét là trẻ. Mà trẻ có lẽ ở đây là có những thiếu sót họ chấp nhận được. Tôi thì không muốn như vậy. Đôi lúc tôi có đọc lại thơ của mình vài ba năm trước. Đa phần tự thấy ngượng. Tôi nghĩ thời gian giúp tôi học được nhiều về thi pháp, và cách kiểm soát cái tôi tác giả để không biến bài thơ thành sự phô trương lố bịch. Tôi từng có nhiều bài thơ chỉ nhằm mục đích chứng tỏ khả năng về kỹ thuật. Bây giờ tôi cực kỳ xấu hổ khi vô tình bắt gặp chúng đâu đó.
Vũ Ngọc Đan Linh: “Tôi thường viết về hoài niệm để giữ cho ngòi bút của mình không bị đồng hóa bởi sự lạnh lẽo của kỷ nguyên số”
Trước đây, từng có một giai đoạn các nhà thơ nữ xuất hiện và tạo nên những “hiện tượng” khi cất lên tiếng nói khẳng định nữ quyền đầy mới lạ, táo bạo, thậm chí mang tính gây hấn trong thơ. Tuy nhiên, đến thế hệ của chị, những biểu hiện ấy đã phần nào lắng xuống. Chị nhìn nhận sự thay đổi này như thế nào?
Tôi nghĩ, sự đấu tranh của văn chương nữ giới chưa bao giờ thoái trào, đây là một sự chuyển mình tất yếu trong giọng điệu, từ một tiếng thét thành hơi thở. Nếu trước đây, các nhà thơ nữ phải dùng sự táo bạo như một vũ khí để phá vỡ một hệ thống ngôn ngữ xem nam giới là trung tâm, thì giờ đây, chúng tôi đang viết từ vị thế chủ thể. Chúng tôi không còn cảm thấy cần phải thách thức để được quyền nói về thân thể hay bản ngã; thay vào đó, tính nữ trở về với trạng thái tự nhiên, điềm tĩnh và tự chủ nhất của nó. Với tôi, nữ quyền hôm nay không cần phải gồng mình lên khẳng định, bởi nó đã mặc nhiên tồn tại trong ngôn ngữ, bền bỉ như một dòng mạch ngầm trong văn chương nữ giới.

Above Nhà thơ Vũ Ngọc Đan Linh
Dù ở thời nào, phụ nữ - với tư cách người viết - vẫn phải đối diện ít nhiều những định kiến vô hình. Theo chị, những định kiến ấy hôm nay còn tồn tại hay không? Nếu có, chúng ảnh hưởng như thế nào đến lựa chọn giọng điệu cũng như con đường sáng tác của chị?
Định kiến ngày nay tinh vi ở chỗ nó luôn tìm cách đẩy người viết nữ vào những đối lập nhị phân truyền thống: nam giới là lý trí/ánh sáng, nữ giới là cảm xúc/bóng tối. Khi một người phụ nữ cầm bút, thế giới vẫn chờ đợi họ viết về những gì “phù hợp” với thiên tính thụ động. Như sự “xấu hổ” mà Emma Santos nhắc tới (rằng viết, không gì hơn, là một “căn bệnh hoa liễu” hay “một thời gian dài van nài”). Người viết nữ thường rơi vào trạng thái vô gia cư trong chính ngôn ngữ, phải mượn những hệ thống từ vựng vốn được kiến tạo bởi nam quyền để diễn tả những cơn đau đặc thù của mình. Họ mang một nỗ lực tuyệt vọng để được nhận diện như một bản thể độc lập.
Sáng tác, với tôi, chính là hành trình tháo dỡ cái “gạch chéo” ngăn cách giữa những cực đối lập kể trên. Cần phải lựa chọn: hoặc biến nỗi đau thành một thứ trang sức dịu dàng làm hài lòng độc giả, hoặc chấp nhận sự xấu hổ để viết như một sự phát tiết sinh học, coi văn chương là nơi phơi bày những chứng bệnh của thời đại và của chính mình. Tôi chọn con đường thứ hai.
Không còn là “nhà thơ nam” hay “nhà thơ nữ”, mà chỉ là một nhà thơ, trong bối cảnh thế giới và xã hội đương đại nhiều biến động hôm nay, điều gì đang thôi thúc và chiếm mối quan tâm lớn nhất của chị trong sáng tác?
Khi ranh giới về giới tính được xóa nhòa để nhường chỗ cho một bản thể cầm bút thuần túy, thứ thôi thúc tôi nhất không còn là việc đi tìm tiếng nói cho “phái” mình, mà là sự truy vấn về thân phận con người giữa một thế giới đang rạn vỡ và đầy biến động.
Tôi khao khát đi tìm một tình yêu khác trong ngôn ngữ, nơi người viết và thế giới nhìn thấy nhau như những hiện hữu toàn vẹn. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự kết nối diễn ra mọi lúc mọi nơi, nhưng sự thấu cảm lại trở nên xa xỉ. Tôi thường viết về hoài niệm. Đó là cách tôi giữ cho ngòi bút của mình không bị đồng hóa bởi sự lạnh lẽo của kỷ nguyên số.
Bùi Gia Bin: “Sự trỗi dậy của A.I như một phép thử tất yếu mà công nghệ đặt ra cho nghệ thuật”
Ở tuổi đôi mươi, khi lựa chọn dịch các tác phẩm của Melville, Joseph Conrad hay Chesterton, điều gì đã khiến anh không ưu tiên những tác giả gần với thế hệ của mình hơn, hoặc chí ít là các tác giả thuộc thế kỷ XX?
Lựa chọn theo nghĩa hoàn toàn chủ động thì không hẳn. Cũng như hầu hết đồng nghiệp thuở mới vào nghề, quyền quyết định tác phẩm nào được in lúc ấy không nằm trong tay tôi. Trước khi được in cuốn đầu tiên là Ngắn, những bản dịch non nớt tôi gửi đi cũng chẳng dính dáng gì đến Melville hay Chesterton. Phần lớn, sách dịch thời kỳ đầu đến từ đề xuất của biên tập và tính toán xuất bản, chứ không phải từ một đam mê sẵn có. Khi nhận dịch Một Người Tên Là Thứ Năm và Tay Điệp Viên, tôi chỉ là độc giả tuyệt đối trung bình của họ: Chesterton qua loạt truyện Cha Brown, còn Conrad thì qua bản dịch Giữa Lòng Tăm Tối của dịch giả Nham Hoa và hai tiểu thuyết ngắn khác. Nhưng nói thế không có nghĩa tôi đối xử với hai tác phẩm trên như một nhiệm vụ thuần túy không liên quan và bị áp đặt. Trong quá trình nghiên cứu tác phẩm và chuyển ngữ, văn chương của họ đã thực sự cho tôi khai ngộ lẫn sung sướng khi được truyền tải lại trong tiếng Việt, điều mà tôi chưa chắc có nếu chỉ làm việc với các tác giả tôi biết quá rõ và quá thích.
Về những tác giả gần hơn về mặt thế hệ, tôi lại không cảm thấy văn chương họ gần gũi hơn về mặt tâm thế, thái độ. Thích và thấy hay thì có, nhưng khiến tôi khao khát được dịch thì chưa.

Above Các dịch phẩm của dịch giả Bùi Gia Bin
Khi làm việc với những văn bản được sinh ra trong một bối cảnh lịch sử và tinh thần khá xa hiện tại, có bao giờ anh cảm thấy mình phải “già đi” để theo kịp chúng không? Hay ngược lại, chính quá trình dịch của một dịch giả trẻ ở thời bây giờ mang lại cho các tác phẩm ấy một cách đọc mới, thậm chí trẻ hơn, trong hiện tại?
Tôi chưa bao giờ thấy mình phải trở thành bất kỳ một người nào khác để dịch, thậm chí đọc, các tác phẩm văn chương không sinh ra hoặc gần gũi với thời đại mình. Văn chương lớn thì không sợ thời gian, thời gian sẽ chỉ làm cho nó sáng rỡ thêm. Đối với Melville hay Conrad, những tác giả mà mấy trăm năm sau vẫn còn được tìm đọc và yêu thích, họ luôn có thể khiến ta ngỡ ngàng vì độ mới mẻ, lịch duyệt của họ. Nói cách khác, họ có thể già đi nhưng văn chương của họ không già. Tôi nghĩ không thiếu những nhà văn ta tưởng đã chẳng còn liên hệ gì đến tri thức hiện đại, hiểu biết đương thời, lại nói cho chúng ta nghe những điều mà không phải người viết sống trong lòng hoặc tiệm cận nó nói được. Chẳng hạn như Melville, độc giả hiện đại đọc Bartleby vẫn có thể ngỡ ngàng vì thấy mình trong đó, một kẻ giữ chức vụ bàn giấy ngày ngày quẩn quanh với bốn bức tường và công việc bế tắc, kiệt cùng, cũng chỉ muốn được hét lên “Tôi chẳng muốn, tôi chẳng muốn” như anh ta. Thiết tưởng, các nhà văn ấy, dù bằng phương tiện có phần xa lạ, ngôn ngữ có phần cầu kỳ, rườm rà, nhưng văn chương của họ chưa bao giờ vô can với chúng ta hay, tôi tin, con người của mấy trăm năm sau. Cũng như Nguyễn Du với Kiều hay Nguyễn Gia Thiều với Cung oán.
Vì vậy, tôi không nghĩ quá trình dịch của mình mang lại cho tác phẩm một “cách đọc trẻ hơn”. Bản thân các tác phẩm ấy mới mẻ hơn chúng ta tưởng rất nhiều.
Trong bối cảnh A.I ngày càng tham gia sâu vào hoạt động dịch thuật, anh nhìn nhận vai trò của mình – với tư cách một dịch giả văn chương – sẽ thay đổi như thế nào: như một người cạnh tranh với máy móc, hay như một người đối thoại và tái định nghĩa lại công việc dịch thuật trong tương lai?
Với văn chương, tôi nhìn nhận sự trỗi dậy của A.I như một phép thử tất yếu mà công nghệ đặt ra cho nghệ thuật. Lịch sử đã từng chứng kiến những cuộc va chạm tương tự: nhiếp ảnh từng thách thức hội họa ở thế kỷ XIX, điện ảnh từng chất vấn sự tồn tại của sân khấu đầu thế kỷ XX. Thực tế, ý định chuyển giao hoàn toàn việc dịch thuật cho máy móc không mới, nó từng bùng nổ với nghiên cứu về dịch máy (MT) và mau chóng thất bại vào những năm 1950. Lần này trở lại như một trong những ứng dụng của A.I, tôi tin, cũng không làm thay đổi bản chất vai trò của dịch giả văn chương, ít nhất trong hiện tại và tương lai gần. Nói như thế nghĩa là, cái thực tế rằng ngày càng có nhiều cuốn sách dịch từ A.I - dù thô lậu (như ta thấy) hay tuyệt hảo (như các cơ sở sản xuất mong đợi) - thực chất là cuộc chơi về tối ưu hóa lợi nhuận từ các nhà làm sách, chứ không phải là một sự tiến hoá, biến chuyển hay đe doạ gì đối với vai trò dịch giả văn chương cả. Tôi không nghĩ hai đối tượng ấy chung hệ quy chiếu.




