Cover Nghệ sĩ Ngọc Nâu. Ảnh: Lê Lai

Thông qua ngôn ngữ của video sắp đặt, hologram hay thực tế ảo tăng cường, nghệ sĩ Ngọc Nâu dệt nên bức tranh đa diện về tâm lý xã hội, ký ức lịch sử và niềm tin tín ngưỡng ở Việt Nam

Ngọc Nâu vốn tốt nghiệp khoa Lý luận, Lịch sử và Phê bình mỹ thuật từ Đại học Mỹ thuật Việt Nam, một hướng đi mà cô xem là hữu ích cho thực hành đương đại của mình khi nghệ sĩ được trau dồi tư duy phản biện, phân tích và xây dựng cơ sở nghiên cứu đằng sau mỗi dự án sáng tác. Chiều sâu cùng sự đa sắc trong phương thức biểu đạt của nữ nghệ sĩ sinh năm 1989 này đã đưa tác phẩm của cô đến với nhiều triển lãm uy tín tại Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Đức và Nhật Bản.

Niềm tin tín ngưỡng, đặc biệt là Đạo Mẫu, là đề tài sáng tác lớn của chị. Lý do là gì, thưa chị?

Nó gắn liền với mảnh đất Thái Nguyên nơi tôi sinh ra. Như nhiều vùng đất khác, nơi đây ẩn chứa nhiều câu chuyện lịch sử, kinh tế, văn hóa, môi trường trước những đổi thay của xã hội. Thực hành Đạo Mẫu gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân quê tôi: các bà, các dì, hàng xóm và bạn bè xung quanh – ai ai cũng đi lễ, ai ai cũng tin vào phước lành từ những vị thần cai quản thế giới tự nhiên.

Tatler Asia

Tôi luôn đặt câu hỏi vì sao trong một xã hội phát triển như hiện nay, con người vẫn có niềm tin về một thế giới khác, không có hình dạng, không có bằng chứng về mặt khoa học. Phải chăng, niềm tin vào một thế giới vô hình như thế sẽ mãi luôn tồn tại, thậm chí là mạnh mẽ khi con người đang bị chi phối bởi những mô hình, cấu trúc rập khuôn. Tôi thì tin rằng cảm xúc của con người có thể nói lên được nhiều thứ, và cho ta thấy được bối cảnh tâm lý đằng sau những gì đang diễn ra xung quanh mình.

Vì sao Ngọc Nâu chọn các loại hình trình chiếu cho sáng tác của mình?

Loại hình này vốn phổ biến trên thế giới, nhưng không được vận dụng nhiều thời tôi đi học. Chúng thường xuất hiện trong các chương trình giải trí, vì là công cụ đánh vào thị giác, nên thu hút đông giới trẻ tham gia. Tôi mới nghĩ tại sao không sử dụng phương tiện này trong sáng tác. Bản thân những câu chuyện mà tôi muốn truyền tải không hẳn là mới, diễn ra nhiều đến nỗi đôi khi người ta quên mất là chúng vẫn tồn tại và tác động đến đời sống. Tôi dùng công nghệ để mọi người có thể nhìn lại chúng qua lăng kính mới.

Đọc thêm: Đạo diễn Mai Huyền Chi: “Nhìn nhau lâu hơn một xíu”

“Ký ức là một chất liệu phức tạp, không dễ nắm bắt hoặc lý giải, mất đi ký ức cũng là đánh mất linh hồn”

- Ngọc Nâu -

Chị có gặp khó khăn trong lúc thử nghiệm với loại hình này?

Giới hạn mà tôi đang cố vượt qua là làm sao để không phụ thuộc vào máy móc quá nhiều. Khi trình chiếu tác phẩm, tôi thường kết hợp thêm các chất liệu tự nhiên, như nhồi các tờ giấy báo cũ để làm thành màn chiếu. Trong quá khứ, báo giấy là kênh thông tin gắn liền với đời sống thường nhật, nhưng hiện nay cái hành vi, thói quen đấy gần như bị xóa sạch. Một màn chiếu khác thì sử dụng vật thể thu thập trong nghi lễ Đạo Mẫu: những chiếc gương, khăn mùi xoa, v.v. được tin là có phép thuật, nhưng sau đó bị con người quên lãng. Tôi sử dụng các chất liệu này để bề mặt trình chiếu tác phẩm biểu đạt một ký ức cảm xúc khác, để xóa bỏ sự nhàm chán của bề mặt trơn phẳng hoàn hảo.

Loại hình này ắt hẳn đòi hỏi sự đầu tư kỹ về trang thiết bị kỹ thuật?

Đúng vậy. Loại máy chiếu mà tôi hay dùng để thử nghiệm trong studio là của Epson, một phần vì thương hiệu này khá là phổ biến. Với nghệ sĩ làm video sắp đặt và projection mapping như tôi, máy chiếu tốt có lượng ánh sáng mạnh sẽ tạo ra độ sắc nét, tính chân thật nhiều nhất. Độ sáng của máy cũng giúp mình vượt qua một số cản trở về điều kiện giới hạn của không gian. Studio của tôi không hoàn toàn kín và tối. Khi đó, máy chiếu có ánh sáng đủ mạnh sẽ giúp mình thấy được hiệu quả rõ nét của hình ảnh cần thể hiện. Ngoài ra, yếu tố dễ di chuyển, dễ lắp đặt, nhỏ gọn và bền lâu cũng là tiêu chí cần có khi máy chiếu được sử dụng ở các không gian triển lãm vừa phải.

Tatler Asia
Tatler Asia

Vì sao khi tham gia chương trình lưu trú ở Lithuania năm 2023, chị đã lấy vấn đề đô thị hóa và tác động của nó lên môi trường và đời sống qua điểm nhìn của kiến trúc làm đề tài nghiên cứu và sáng tác?

Loài người từng sống trong hang động, dưới bóng cây, nương vào cấu trúc của thiên nhiên nhiều hơn. Với sự phát triển của xã hội, hạ tầng đô thị ngày càng xa rời thiên nhiên. Hành vi, niềm tin, cảm xúc của chúng ta vì thế cũng bị tác động. Cuộc sống của con người trong thành phố lúc nào cũng bị bao quanh bởi bốn bức tường, hoặc chỉ nhìn thấy màn hình máy tính và điện thoại. Bầu trời, cây cối, sông suối, v.v. hiếm khi lọt vào tầm mắt. Nhưng khi đứng trước thiên nhiên, ta sẽ thấy được sự đa dạng bao la, phong phú vô ngần của tạo hóa. Nó không bị gói gọn và giản lược như những khối hộp vuông vức khiến cho con người cạn dần cảm xúc. Tâm hồn con người và những yếu tố tự nhiên như ngọn núi, cái cây, thậm chí là cục than… phải mất rất nhiều thời gian để thành hình. Tôi cảm thấy đáng tiếc nếu tất cả những thứ này biến mất khỏi đời sống hiện đại.

Đọc thêm: Nguyễn Thị Minh Ngọc: Mở đôi mắt mộng 

Phải chăng nỗi sợ lớn nhất của Ngọc Nâu là việc con người bị mất đi ký ức?

Ta có thể xây dựng lại một tòa nhà, một cây cầu đã mất nếu có trong tay bản vẽ thiết kế; nhưng ký ức con người thì rất khó mang trở lại. Một công trình trở nên quan trọng vì nó lưu giữ ký ức, vì con người đã từng sống, từng đi qua nơi ấy. Ký ức là một chất liệu phức tạp, không dễ nắm bắt hoặc lý giải, mất đi ký ức cũng là đánh mất linh hồn của một con người. Và đó chính là thứ tạo nên giá trị trong mỗi tác phẩm.

Khi đi quan sát thực tế, trò chuyện với người dân, tôi lưu giữ tất cả bằng ký ức và cảm xúc của mình. Cái hay của nghệ thuật là mình không thu thập và tiếp cận dữ kiện như một nhà khoa học. Không phải mình không chú trọng tính khách quan, nhưng trong nghệ thuật còn có yếu tố hư cấu, khi người nghệ sĩ có quyền tự do sáng tạo dựa trên trải nghiệm cá nhân. Nhưng nếu chỉ đưa vào tác phẩm góc nhìn hoàn toàn chủ quan, tôi thấy nó thỏa mãn cái tôi của người nghệ sĩ nhiều hơn. Dù gì, tác phẩm vẫn cần có sự kết nối cảm xúc với người xem. Thử thách tôi đặt ra cho bản thân là làm sao để câu chuyện mà tôi muốn truyền tải không bị giới hạn trong một cộng đồng nhỏ, mà còn chạm đến thế giới rộng hơn ngoài kia.

Tatler Asia

Chị đã ứng dụng AI trong triển lãm do Đại sứ quán Việt Nam tại Saudi Arabia tổ chức năm ngoái. Chị cảm nhận ra sao về công nghệ này?

Thực ra, AI vẫn chưa thuyết phục tôi cho lắm (cười). Với tôi, đó chỉ là bước đầu thử nghiệm, xem nó có phù hợp với mình không. Suy cho cùng, công nghệ vẫn là một thứ “nguyên vật liệu” phục vụ cho công việc sáng tác của nghệ sĩ. Hiện tại, máy móc vẫn chỉ là máy móc, vẫn thiếu đi cảm xúc. Kể cả hình ảnh do AI tạo ra có phong phú đến đâu, không hiểu sao tôi vẫn thấy hoài nghi về thứ mình đang nhìn. Một tác phẩm nhiếp ảnh do người thật chụp vẫn có tính chân thật, khiến mình rung động nhờ cái cảm xúc mà con người đưa vào.

Tôi cũng đặt ra câu hỏi về lương tâm khi sử dụng một công nghệ đang tiêu tốn rất nhiều tài nguyên môi trường như vậy. Cùng với đó là câu chuyện về việc sử dụng tài nguyên trí tuệ của những người khác. Tôi thấy có vấn đề khi áp dụng nó vào trong sáng tác. Một phần vì khi làm việc nhiều với đồ họa, bạn sẽ nhận ra hình ảnh trên mạng tạo ra một thế giới quá hoàn hảo. Vô hình trung, quan niệm của con người về sự hoàn hảo cũng bị chi phối – người ta luôn hướng đến nó, yêu cầu bản thân phải đạt được nó và tạo ra áp lực từ đó. Yếu tố tự nhiên vì thế cũng bị gạt bỏ, thế nhưng cái mà họ cho là hoàn hảo lại không hề có thực ngoài đời.

Và AI cũng không thể thay chị đi quan sát thực nghiệm, trò chuyện với người dân Thái Nguyên?

Đúng là như thế. Chưa kể, câu chuyện của những người dân sinh sống ở đó không thu hút nhiều sự chú ý, chỉ có người nghệ sĩ như mình quan tâm đến vấn đề của họ thì mình mới đi nghiên cứu. Tư liệu về những đề tài mình lưu tâm cũng không nhiều và phổ biến, thì làm sao AI có thể phản ánh câu chuyện cá nhân gắn liền với tâm tư của họ được? Mình phải trực tiếp đến tận nơi, gặp gỡ mọi người, quan sát và trải nghiệm thì mới hiểu được điều gì đang diễn ra ở vùng đất ấy. Ta đang sống trong thế giới công nghệ thông tin, luôn bị tác động bởi vô vàn sự kiện và hình ảnh, nên với tôi điều quan trọng là làm sao để mình chắt lọc và lưu giữ cái gì cần thiết nhất cho việc sáng tác.

Tatler Asia

Chị đang ấp ủ gì cho các dự án nghệ thuật sắp tới?

Tôi đang nghiên cứu phương thức kể câu chuyện về việc thiên nhiên đang bị biến đổi ra sao. Bạn có nhớ ngày xưa mình học văn, có phương pháp gọi là nhân cách hóa. Có những thứ mình đọc ngày xưa có vẻ dễ thương như cái chổi hay con mèo biết nói, nhưng nó cũng cho thấy việc con người đang áp đặt suy nghĩ của mình lên thế giới tự nhiên. Chẳng hạn như người ta có thể phá hủy một vùng đồi vốn rậm rạp cây rừng, để rồi sắp đặt lại toàn bộ cảnh quan trong bản vẽ thiết kế. Thực ra, chính cái thế giới tự nhiên mới có giá trị hơn là thái độ ứng xử của con người hiện nay trước thiên nhiên.

Chị nghĩ gì khi có ý kiến cho rằng nghệ thuật chỉ đóng vai trò thứ yếu trong một thế giới nhiều biến động?

Với tôi, nghệ thuật luôn là thứ không thể thiếu trong cuộc sống. Có người vẽ chỉ để bán tranh, người thì muốn đóng góp cho xã hội, người thì sáng tác để thỏa mãn nhu cầu cảm xúc. Thời kỳ nào cũng thế, mỗi tác phẩm đều phản ánh tư duy nội tại của người sáng tác. Quay lại với việc làm cho thế giới tốt hơn, tôi không đặt ra cho mình một “tuyên ngôn” lớn như thế, vì nó có thể trở thành gánh nặng cho người làm sáng tạo. Tôi thường đi những bước gần, vừa đủ để bản thân không bị giới hạn, để quá trình sáng tác luôn mang lại cảm giác rằng mình vẫn yêu thích công việc này.

Mẹ tôi vốn là người đã bán được rất nhiều tranh. Tôi đã thấy có những người ban đầu chỉ quan tâm đến việc ăn ngon mặc đẹp, kiếm thật nhiều tiền. Nhưng sau khi họ bắt đầu mua tranh và lưu tâm đến nghệ thuật, cách nói chuyện của họ trở nên rất khác. Tôi có cảm giác tư duy của họ được nghệ thuật làm cho thi vị hơn. Lý do tôi thường tham gia các lễ hội Đạo Mẫu ở quê, là vì những người nông dân, bán hàng, v.v. có thể khó chịu trong môi trường làm việc bình thường, nhưng khi vào không gian nơi họ được tự do thể hiện chính mình, thì họ khác hẳn – vui vẻ, hòa đồng, ca hát, nhảy múa… Một phần vì khi xã hội dư dả về vật chất, con người ta có chăng lại thiếu đi những sợi dây kết nối như thế. Văn hóa và nghệ thuật chính là cách để mọi người kết nối cảm xúc với nhau.

Chị nghĩ sao về việc các thương hiệu lớn tại Việt Nam như Epson đang đầu tư vào nghệ sĩ và nghệ thuật?

Đó là điều đáng quý. Nếu có nhiều hơn các dự án tài trợ và cộng tác, nghệ thuật trình chiếu sẽ được đẩy sâu và mở rộng hơn trong cộng đồng nghệ sĩ. Một khi thấy có thể dễ dàng sử dụng thiết bị cũng như tác động của công nghệ này đến thị giác, không gian và trải nghiệm của người xem, nghệ sĩ sẽ đón nhận hơn loại hình này trong việc thể hiện tác phẩm của mình. Nhiều triển lãm trên thế giới ứng dụng rộng rãi chất liệu này; sự kết hợp giữa nghệ thuật và công nghệ cũng rất được ưa chuộng, đồng thời thu hút nhiều nguồn lực hỗ trợ từ các quỹ và giải thưởng nghệ thuật trên toàn cầu. Việc các thương hiệu như Epson nhận thấy tiềm năng và thúc đẩy giá trị của loại hình nghệ thuật mới này sẽ tạo một bầu sinh khí mới cho cộng đồng nghệ thuật Việt Nam và các nghệ sĩ trẻ.


Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam, số tháng Tư 2026

ĐỌC NGAY

Hiểu nghệ thuật, triển lãm tháng 5 cùng góc nhìn từ tâm thức

Tìm về những nhịp điệu vỡ lòng

Nhiếp ảnh gia Trần Việt Đức: Kẻ lưu lại những ký ức “phi AI”

Credits

Photography: Lê Lai
Quyên Hoàng
Editor, Tatler Vietnam
Tatler Asia