Khi bộ phim tài liệu “The River Knows Our Names” lọt vào danh sách một trong mười phim được tuyển chọn trên toàn thế giới để tham gia La Fabrique Cinéma 2026 trong khuôn khổ Liên hoan phim Cannes, Mai Huyền Chi biết, những câu chuyện mình kể bắt đầu được thế giới lắng nghe
Đạo diễn Mai Huyền Chi là cái tên không xa lạ gì trong giới làm phim độc lập tại Việt Nam. Người ta biết đến chị thông qua các dự án phim dài hạn về những cộng đồng sống ngoài các hệ thống ghi nhận chính thức, đặc biệt tại lưu vực sông Mekong. Những thành công mà The River Knows Our Names mang lại chính là trái ngọt từ những mầm cây Chi đã gieo từ hơn 10 năm trước, khi chị bắt đầu say mê với việc ghi nhận lại những phận đời vô tịch.
Mai Huyền Chi đi qua những biến chuyển trong đời mình vừa thong dong vừa hoang mang, vừa háo hức vừa chân thành, lý tưởng. Dường như vì vậy, hành trình điện ảnh của chị cũng hơi khác lạ: từ mảng báo chí rẽ ngoặt sang làm phim tài liệu (tác phẩm đầu tay Thì Sông Cứ Chảy được vào vòng chung cuộc giải Phim Hay nhất năm 2015 của Vimeo), rồi mới đi học biên kịch.

Above Đạo diễn Mai Huyền Chi
Sau khi tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Biên kịch tại Trường Điện ảnh London, Mai Huyền Chi từng viết kịch bản cho nhiều bộ phim và đạt được một số thành công như Câu chuyện Brixton (đề cử Phim truyện Hay nhất, Slamdance 2021), Chàng Vợ Của Em (giải Cánh Diều Vàng cho Phim Điện ảnh Xuất sắc Nhất 2018), và Cô gái đến từ Đắk Lắk (đề cử phim hay nhất tại Indie Lisboa 2022)...
Ở mảng phim tài liệu, trong vai trò đạo diễn, Mai Huyền Chi chọn cho mình một hướng đề tài rõ nét: thân phận con người. Ngoài ra, chị còn xây dựng cộng đồng làm phim với tôn chỉ “Quê mình mình yêu, chuyện mình mình kể”. Kể chuyện, với Chi chính là cách mà chị nỗ lực để giữa người với người có thể “nhìn nhau lâu hơn một xíu, thương nhau hơn một xíu”.
Đọc thêm: 5 cộng đồng nghệ sĩ độc lập tại Sài Gòn bạn không nên bỏ qua


Điều gì đã thúc đẩy chị đến với điện ảnh?
Hồi đại học, tôi từng nghĩ mình sẽ làm việc cho các tổ chức liên quan đến Liên Hợp Quốc nên đã làm tình nguyện viên cho UN. Tôi muốn thế giới tốt đẹp, nhân văn hơn. Tuy nhiên, sau một thời gian, tôi nhận ra công việc đó có ý nghĩa nhưng quá trình thực hiện thì không hoàn toàn phù hợp với đầu óc thích bay bổng và cái tính “cà rỡn” của mình, nên thôi. Khi bỏ học Đại học, từ Hà Nội vào Sài Gòn, ngành quảng cáo tìm đến tôi trước. Tôi thấy quảng cáo vui, hay, ngôn ngữ “đầy tính chơi đùa”. Nhưng những “câu chuyện” được kể trong ngành quảng cáo cũng không phải là điều tôi muốn kể, nên tôi lại đi tìm mình ở một nơi khác.
Những năm 20 tuổi của tôi là những năm tự vấn liên tục. Tôi luôn tìm hiểu mình muốn làm gì, mình hợp với gì, mình thực sự quan tâm đến điều gì. Cuối cùng, làm phim chính là nơi những câu hỏi đó tìm được chỗ đứng.
“Tôi luôn tìm hiểu mình muốn làm gì, mình hợp với gì, mình thực sự quan tâm đến điều gì. Cuối cùng, làm phim chính là nơi những câu hỏi đó tìm được chỗ đứng.”
Những thước phim đầu tiên đã đến với chị như thế nào?
Trong những ngày làm việc tự do, tôi đi làm fixer cho phóng viên nước ngoài, đưa họ xuống địa phương hỗ trợ nghiên cứu. Tầm năm 2010, chúng tôi đi tìm hiểu về tác động của các đập thủy điện thượng nguồn Mekong đến đời sống người dân vùng hạ lưu. Sau chuyến đó, năm 2014, nhân dịp lễ 2/9, tôi rủ người bạn thân xuống Long Xuyên để tìm lại một nhân vật tôi đã gặp trước kia, nhưng tới nơi lại không gặp được chú vì không liên lạc được. Chúng tôi đi lang thang và vô tình gặp mấy em bé đang chơi trên bãi ven sông. Chúng tôi quay các em, và được các em dẫn về xóm bè. Mình cứ quay trong lúc trò chuyện với các em, trong lúc các em vẫn đang bơi dưới nước hay chạy giỡn trên bờ. Mấy tháng sau, sau khi nghỉ việc ở MSN, tôi mới lôi những thước phim đó ra coi lại và tự dựng. Từ đó, tôi thành người làm phim.
Làm việc trong môi trường tập đoàn quốc tế như MSN rồi bất ngờ chuyển sang làm phim, chị thấy hai môi trường đó khác nhau như thế nào?
Ở MSN, hàng ngày, với cương vị biên tập, tôi tiếp xúc nhiều luồng tin tức khác nhau qua máy tính, nó cho tôi thấy bức tranh đại cảnh của truyền thông và kinh tế - xã hội Việt Nam và Đông Nam Á.
Khi đi làm phim độc lập, tôi không còn đứng trước màn hình đọc về cuộc sống nữa, mà phải dấn thân vào nó. Những chủ đề, câu chuyện, thế giới hay các nhân vật mà tôi chọn làm phim, thì lại càng khiến tôi phải xông xáo nhiều hơn, cọ xát với đời nhiều hơn.

Vì sao chị chọn làm phim về cộng đồng vô tịch trên sông Mekong?
Trong những nơi tôi đã từng đi qua, những con người tôi đã từng gặp, điều ở lại trong tôi lâu nhất là những quan sát và khoảnh khắc tôi trải qua tại nơi này.
Đó là sự dũng cảm, hài hước, gai góc và thơ mộng, thương yêu và nỗi đau - những gì làm con người phức tạp và đẹp - đẹp với tất cả những mối tương phản bên trong của họ.
Tôi luôn phải tự vấn liên tục: mình đang kể câu chuyện của ai, và vì sao. Với tôi, đó là cách làm cho họ ít “vô hình” hơn. Tôi mong xã hội nhìn nhau lâu hơn một xíu, thương nhau hơn một xíu.
Làm sao chị thuyết phục được người dân địa phương tham gia câu chuyện của mình như một người sáng tạo?
Đó là việc không dễ, và không có công thức. Trong phim Lụa, một gia đình tôi quen đã mười năm tham gia diễn xuất. Trong mười năm đó, mình hay xuống thăm, ngồi trên bè ăn cơm, uống nước, hàn huyên nên khi mình mở miệng mời, người ta cũng dễ mở lòng.
Với các dự án khác, nguyên tắc của tôi không thay đổi: minh bạch về mục đích, trả lương sòng phẳng, đối xử bình đẳng và tử tế - người dân địa phương hay nội bộ ê-kíp đều như nhau. Chúng tôi không làm từ thiện. Sự cộng tác giữa hai bên được xây dựng dựa trên lòng tin và các thỏa thuận công bằng.

“Tôi luôn phải tự vấn liên tục: mình đang kể câu chuyện của ai, và vì sao. Với tôi, đó là cách làm cho họ ít “vô hình” hơn. Tôi mong xã hội nhìn nhau lâu hơn một xíu, thương nhau hơn một xíu.”
Chị có bao giờ gặp phản ứng tiêu cực từ người dân địa phương?
Có lần tôi cãi nhau với một gia đình nọ khi họ đòi thêm tiền thuê bè đóng phim. Lúc đó tôi rất thất vọng vì tưởng chúng ta thân thiết như anh chị em, nhưng tiền bạc xen vào lại sinh chuyện. Nhưng về nhà, tôi nghĩ lại và thấy mình rất vô duyên. Tại sao lại áp những chuẩn mực và kì vọng của mình lên họ? Đó là những việc bình thường, tự nhiên trong thế giới của họ.
Tôi vẫn đang học và luôn phải tự nhắc mình phải vứt bỏ “hành lý” của mình đi - tức thả đi những định kiến và kỳ vọng của mình - thì mới có thể thực sự bước vào thế giới của người khác.

Ngoài làm phim, chị còn đang xây dựng nhiều dự án cộng đồng khác. Chị nhìn những việc đó như thế nào trong tổng thể những gì mình đang làm?
Tôi đang xây dựng một số dự án song song: Cinema Con Nhà Nghèo, Chương trình Lưu trú Sáng tác Kịch bản Gái Tệ, và tuyển tập Bàn về Quên lãng. Chúng không phải là những việc riêng lẻ. Chúng đều xuất phát từ những quan sát về những chỗ trống trong cơ sở hạ tầng của điện ảnh độc lập trong nước, và những chỗ còn khuyết trong các đối thoại của chúng ta.
Cinema Con Nhà Nghèo bắt đầu từ một mong muốn cụ thể: chiếu và nói chuyện về điện ảnh tại Đà Nẵng - lấp vào khoảng trống trong hệ phân phối và khả năng tiếp cận điện ảnh tại địa phương. Với châm ngôn “Quê mình mình yêu, chuyện mình mình kể”, chương trình đặt cốt lõi vào việc xây dựng kết nối với đất, nước, nơi chốn. Tôi nhớ buổi chiếu số 5 - chương trình về ký ức tập thể xung quanh ngày 30 tháng 4, sau khi phim kết thúc, khán giả không về. Họ ngồi lại rất lâu và bắt đầu kể - về những ký ức trong gia đình, những nỗi đau không có tên, những khoảng trống mà thế hệ chúng tôi thừa hưởng mà không biết gọi là gì. Lúc đó tôi hiểu rằng có những dòng chảy âm ỉ trong tâm thức người Việt sinh ra thời hậu chiến - và chúng vẫn còn đó, chỉ là chưa có chỗ để nói ra.
Gái Tệ Residency là chương trình lưu trú sáng tác dành cho các nhà làm phim người Việt Nam thuộc nhóm FLINTA (đồng tính nữ, liên giới tính, phi nhị nguyên, chuyển giới, vô giới) đang muốn phát triển kịch bản phim dài. Năm đầu tiên của Gái Tệ Residency vừa kết thúc với những phản hồi tốt. Chúng tôi sẽ củng cố những gì đã có để các kết nối được xây dựng trong chương trình trở thành quan hệ đồng nghiệp thật sự và lâu dài.
Điều tôi học được từ các dự án này là giá trị không đến từ quy mô hay tốc độ. Nó đến từ việc làm đúng, làm kỹ, và từ việc tìm được nhịp chung với những người cùng làm. Ở những dự án như thế này, mọi người đến với nhau không phải vì quyền lợi. Những gì giữ họ với nhau là tình người và lòng tin vào các gía trị chung, lòng tin vào nhau. Đó là điều quan trọng nhất luôn cần gìn giữ.
Đọc thêm: Oscar 2026: Mùa màng trong giông bão hay cẩm nang (không) giúp đoán phim trúng giải?

Chị nhìn nhận ra sao về mặt bằng chung của phim độc lập Việt Nam hiện nay?
Có rất nhiều nhà làm phim tài năng ở Việt Nam. Điều còn thiếu là hạ tầng để những tài năng đó phát triển được: cơ hội tài trợ trong nước, hệ thống phân phối cho phim độc lập cùng những không gian thể nghiệm.
Hiện tại, nhiều nhà làm phim Việt Nam giỏi phải tìm nguồn lực từ các quỹ quốc tế, chiếu phim ở các liên hoan nước ngoài trước khi được khán giả trong nước biết đến. Đó là một nghịch lý đáng suy nghĩ. Tôi mong có ngày hạ tầng trong nước đủ mạnh để một bộ phim tài liệu hay không cần phải đi vòng qua châu Âu mới tìm được khán giả của mình. Trong Gái Tệ, chúng tôi có câu “nước lên là thuyền lên”. Để điện ảnh Việt Nam thật sự “lên”, mình cần mặt bằng tri thức và văn hóa đi lên cùng: nhà làm phim giỏi, người phê bình tốt, nhà nghiên cứu lý thuyết điện ảnh, triết gia; và những không gian đối thoại để tất cả cùng làm giàu cho cách tư duy và thực hành của nhau.
Chị muốn thế giới nhìn Việt Nam như thế nào qua phim của chị?
Với tôi, quan trọng hơn là Việt Nam nhìn về Việt Nam như thế nào. Chúng ta nhìn nhau - nhìn mình ra sao, nói với nhau, với mình những gì. Thế giới, đó là chuyện tính sau.
ĐỌC NGAY
CHANEL dệt mộng điện ảnh tại Liên hoan phim Cinéma Paradiso Louvre
Vì sao quy định trang phục tại Liên hoan phim Cannes gây tranh cãi?
Credits
Photography: RABHUU
Location: Mekong Merchant Saigon




