Ở tuổi thất thập cổ lai hy, dù đã là người có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nền sân khấu điện ảnh Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Ngọc vẫn đi hoài, đi mãi trên con đường học hỏi về nghệ thuật, về nhân sinh.
Nguyễn Thị Minh Ngọc là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đưa tác phẩm Việt vào sân khấu Off-Off Broadway (nhà hát tập trung vào thể nghiệm và nghệ thuật tiên phong, quy mô nhỏ – dưới 100 ghế) tại New York với cương vị tác giả, đạo diễn và diễn viên của Người đàn bà thất lạc (2008) và Chúng Tôi Là..(2011). Bà cũng được Liên hoan Film Quốc tế về Người Việt (VIFF) tại Mỹ chọn làm tâm điểm năm 2007. Gia tài của Nguyễn Thị Minh Ngọc trải đều trên nhiều lĩnh vực từ văn chương đến sân khấu, điện ảnh, giáo dục và nghiên cứu. Đến nay, bà đã dựng và viết hơn 100 vở kịch truyền thống và đương đại, hơn 30 kịch bản cho điện ảnh, hàng trăm tập phim cho truyền hình, cùng một số công trình nghiên cứu về sân khấu và cải lương. Ngoài việc giảng dạy bộ môn Biên Kịch, Lý Luận Kịch và Lịch sử Sân khấu Việt Nam tại một số trường cao đẳng và đại học, bà cũng tham dự nhiều liên hoan, hội thảo, sáng tác và nghiên cứu về sân khấu và giáo dục trong nước cùng các nước Úc, Anh, Pháp, Đức, Tanzania, Na Uy, Thụy Điển, Philipines, Mỹ, Indonesia.
Buổi chiều trước khi rời Việt Nam sau chuyến đi tháng Ba, bà đã dành cho Tatler một cuộc trò chuyện thú vị.

20 năm gặp lại, bà vẫn mang dáng vẻ của một con người hành động, dường như lúc nào trong túi bà cũng đầy ắp dự án?
Tôi về Việt Nam chuyến này thực ra là có việc gia đình, nhưng rồi bạn bè đồng nghiệp thương quý rủ rê. Như hôm nay, từ sáng sớm tôi lên chùa cúng thất cho người chị, 11 giờ hẹn ở Vivo City họp triển khai kịch bản phim, giờ thì ở đây. Sau buổi chụp ảnh, tôi sẽ đi ăn tối với vài người bạn. Mai bay. Một trong những điểm yếu của tôi là không biết từ chối, mặt khác thì đồng nghiệp, bạn bè, cộng sự cũng hay rủ lời mời. Hai điểm này gặp nhau làm cho tôi lúc nào cũng như... một bà mẹ, cùng lúc chăm nom 10 đứa con đang khóc đợi mẹ ở nhà (cười).
Trước đó, người viết đã gặp bà làm việc với đạo diễn để chuyển thể kịch bản sân khấu, diễn nhiều suất với các vở diễn mới toanh tại sân khấu Thiên Lý, trò chuyện với khán thính giả, ra mắt sách, v.v.
Cả hai lần ra mắt phim Song Lang và Quán Kỳ Nam, tôi đều không dự được cine tour. Tôi cũng đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy”; tuổi này, nói thật không còn bao nhiêu thời gian sống, mà tự nhiên thấy mình làm ít quá. Tôi nghĩ mình vẫn còn nhiều chuyện dở dang chưa làm tròn, còn những nhân vật ước – muốn – đòi “sống” mà mình chưa chăm sóc đủ để cho nó ra tròn trịa đẹp đẽ. Tôi nghĩ mình cần thêm thời giờ, rồi lại nghĩ sao không nhìn gương người xưa, họ đã làm những điều quá lớn. Những điều mình làm chỉ là nhỏ bé thôi, nhưng cũng phải làm, làm cho nó đỡ lạnh lưng. Tôi cảm thấy mình không cô độc trên con đường này; có những người từ thời đại khác đã từng sống và làm việc trên đất nước không phải quê nhà của họ – như “ông Năm” Yersin, mẹ của nhà văn Marguerite Duras chẳng hạn – nhưng họ sống vì người dân vùng đó. Từ họ, tôi liên tưởng tới những cái chết vô danh, không hoặc chưa chạm tới giấc mơ của mình. Bây giờ chắc có cả triệu triệu người Việt Nam trên toàn thế giới rồi, và trong số họ, cũng có những người không hoặc chưa chạm được giấc mơ của mình.


Hình như bà đang ấp ủ một cuốn tiểu thuyết? Nhân vật trong dự án đó lại là một con Ma lai...
Thật ra con Ma lai rất thú vị. Trong ký ức tuổi thơ, chắc mọi người vẫn nhớ câu chuyện dân gian nói rằng Ma lai mỗi tối lại rút cái đầu và đùm ruột bay đi. Muốn diệt được nó, người ta phải lật xác úp xuống, như vậy đầu và thân của nó bị đảo ngược, cái đầu không thể quay lại ráp vào thân người được nữa. Hình ảnh con Ma lai làm tôi liên tưởng đến một điệp viên, một lớp vỏ bọc. Ban ngày Ma lai có thể giống như bất kỳ ai, có thể là mình, hoặc bạn mình, sống bình thường như bao người. Nhưng ban đêm, nó lại có một đời sống khác.
Con Ma lai trong tác phẩm của tôi là con ma thường đi lắng nghe tâm tình, lắng nghe khát vọng cuối cùng của những người đang hấp hối. Không giúp được gì, cũng không can thiệp được gì, nhiều câu chuyện nghe xong nó còn tức giận thêm. Dẫu sao, vai trò của nó là lắng nghe và kể lại. Ở trên đất Mỹ, tôi cũng có một ít kinh nghiệm sống và làm việc. Vì vậy tôi nghĩ mình có thể cùng với “con Ma Lai” lắng nghe những câu chuyện đó và kể lại cho nhiều người cùng nghe. Không chỉ những người nổi tiếng mới có tiếng nói; ngay cả những người bình thường, những người làm ăn, buôn bán, v.v. ai cũng có tiếng nói và câu chuyện của riêng mình.
Đọc thêm: Kiến tạo từ khoảng trống
Về điểm này con Ma lai có yếu tố giống nhà văn hơn?
Hôm nọ trong một cuộc nói chuyện, nhân nhắc lại vở Tiên Nga, có người hỏi tôi rằng: “Viết là để trở thành người vĩ đại hay để kiếm tiền?” Thưa thật rằng đã có lúc (không phải một lần), tôi vừa viết vừa khóc. Mở đầu Tiên Nga là nhân vật ông mù viết văn. Ông nói: “Tôi là một người mù, lại là người mù viết văn. Nói giùm tôi biết đi: Non sông đất nước tôi còn đẹp không? Những người vợ còn đứng bế con đợi chồng hóa đá hay không? Dân tôi có còn hiền hòa hay không?” Đó là gì? Đó là tiếng nói của một người đã mất đi khả năng nhìn, biết mình khiếm khuyết nhưng vẫn khát vọng được nghe người khác kể sự thật về đất nước mình.
Bản thân mình, dù làm nghề lâu năm, dù biết viết, biết làm việc này việc kia, tôi vẫn thấy mình còn thiếu sót rất nhiều, vẫn cố gắng học, nhưng cũng không biết còn đủ thời gian để học hay không. Bởi vì học xong còn phải làm, phải biến những điều đã học thành tác phẩm. Và vì vậy, tôi luôn ý thức rõ rằng mình vẫn đang trên con đường học hỏi. Không chỉ học kiến thức, mình phải học từ cả thất bại lẫn những lựa chọn sai lầm của người khác. Có nhiều người rất nổi tiếng nhưng vẫn đưa ra những quyết định sai lầm. Cũng chính từ những sai lầm ấy, ta có thể nhìn thấy nhiều bài học cho riêng mình.


Luôn giữ tư thế của một người đang học, bà có thể chia sẻ cách tự học của mình cho các bạn trẻ?
Cách học của tôi khá đơn giản: xem phim. Ban đầu chọn những bộ phim có điểm IMDB cao xem trước, khi có thời gian rảnh, tôi quay lại xem dần các phim có điểm thấp hơn. Tôi phát hiện ra có những phim điểm không quá cao mà vẫn rất hay. Điều quan trọng là trong mỗi bộ phim, mình luôn cố gắng tìm xem liệu câu chuyện đó có thể bổ sung điều gì cho công việc viết của mình hay không.
Gần đây, trong vở diễn Bóng người xưa, khán giả lại có dịp tái ngộ với “cô đào” Minh Ngọc. Bà và nghệ sĩ Tú Quyên vừa là người dẫn chuyện, vừa đảm nhận 3 vai khác nhau. Bà thoát vai nhập vai rất nhanh, khán giả chỉ còn cách khóc cười theo nhân vật...
Nhiều người nói họ ấn tượng với cách tôi có thể từ việc dẫn truyện bước vào nhân vật một cách rất tự nhiên. Tôi nghĩ điều đó không chỉ là kỹ thuật, mà là cảm xúc và tình yêu dành cho nhân vật. Khi diễn, người diễn viên phải cố gắng “lôi cái hồn” của nhân vật ra. Tôi nghĩ mỗi nhân vật đều có một “lời ngầm” – tức là những điều họ nghĩ trong đầu nhưng không nói ra. Khi diễn, người diễn viên phải hiểu rõ điều đó. Ví dụ như khi một nhân vật đến mượn tiền, họ có thể bắt đầu bằng những câu khen ngợi, nói chuyện vui vẻ, để rồi sau đó mới nói ra mục đích thật sự. Điều đó tạo nên hành động và tâm lý của nhân vật. Có một câu chuyện về một diễn viên rất nổi tiếng, ông cứ diễn đến cảnh đó, 99 lần thì y như rằng 99 lần khán giả vỗ tay rần rần. Đến lần thứ 100, ông tự nhủ, “Ồ, đến đoạn này khán giả sắp vỗ tay rồi”, thì lạ lùng chưa, khán giả không vỗ tay nữa. Vì sao? Ông nhận ra rằng lúc đó ông đã trở thành “diễn viên”, chứ không còn là “nhân vật” nữa. Thay vì sống trong câu chuyện của nhân vật, lần thứ 100 này ông bắt đầu nghĩ đến phản ứng của khán giả. Người diễn viên trên sân khấu phải luôn giữ được sự cân bằng: vừa nhập vai, vừa kiểm soát được diễn xuất để không làm mất đi cảm xúc của khán giả.
Là người tiếp xúc, làm việc với nhiều thế hệ, bà nghĩ gì về văn hóa đọc của những người làm văn nghệ trẻ?
Khi nói về sự khác biệt giữa các thế hệ, tôi cho rằng không thể đơn giản so sánh thế hệ trước có ít điều kiện đọc hơn hay không. Mỗi thời kỳ đều có những thuận lợi và hạn chế riêng. Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều điều kiện tiếp cận tri thức hơn, đồng thời cũng có những thiếu hụt khác. Thế hệ trước cũng không phải ai cũng giống ai; có hàng ngàn, hàng vạn con người với những cách suy nghĩ khác nhau. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh, bạn cũ của tôi khi trả lời phỏng vấn, đã cho rằng những nhà nghiên cứu đôi khi giống như “gà công nghiệp”: ăn cùng một loại thức ăn thì sẽ phát biểu giống nhau. Còn ông thì không thể như vậy, ông phải tự tìm nguồn tri thức của riêng mình.

Đây hẳn là lý do bà vẫn luôn tự nhận mình là người đang học hỏi tìm tòi dù đã đi dạy rất nhiều năm?
Hồi đó, không phải tôi quyết định đi dạy mà trường quyết định giữ tôi đứng lớp. Họ gửi tôi tham dự một khóa sư phạm ở Viện Đại Học mà học viên là những người thầy bất đắc dĩ. Khi học sư phạm, bài học đầu tiên tôi nhận được là: 95% việc giáo dục thực chất là tự giáo dục. Càng về sau này, tinh thần tự học trong nhiều lớp học trở nên rất mạnh, một phần vì số lượng giảng viên không đủ, nhiều thầy cô phải chạy nhiều nơi để giảng dạy. Vì vậy sinh viên buộc phải tự tìm tòi, tự học và tự trao đổi với nhau. Tôi cũng học theo cách đó, tự tìm con đường riêng cho mình. Có điều kiện tiếp xúc với văn học và nghệ thuật Âu – Mỹ, tôi cố gắng đưa những tác phẩm ấy vào môi trường học đường.
Đọc thêm: Đường về nghệ thuật
Hồi còn dạy ở trường Sân khấu Điện ảnh, các buổi thi của lớp cô Minh Ngọc có rất đông người xem. Thầy hiệu trưởng còn đề nghị đưa những vở kịch đó vào chương trình chính thức của trường. Ban đầu tôi và sinh viên dịch, biểu diễn các kịch bản rất hay từ các nước Nhật, Pháp... chỉ để buổi thi thêm phong phú. Sau này, tôi nhận ra rằng việc này còn giúp mở rộng nhân cách và tầm nhìn của sinh viên, giúp họ tiếp xúc với thế giới rộng lớn hơn. Tóm lại tự giáo dục là một khái niệm rất rộng. Thời đó nhiều lớp học tổ chức theo hình thức “tự quản”. Sinh viên chia bài học cho nhau, cùng làm bài và kiểm tra lẫn nhau. Khi thầy cô rảnh thì mới quay lại kiểm tra. Cách học đó giúp sinh viên hiểu rằng họ học cho chính mình chứ không phải học cho thầy. Khi nhận ra điều đó, người học sẽ tự tìm cách để học tốt hơn.
Cách tự giáo dục này làm nhớ đến dự án sân khấu diễn đàn mà bà đã đem đi diễn rất nhiều nơi. Hiện nay, hình thức sân khấu này có còn được áp dụng không, thưa bà?
Sân khấu diễn đàn là một hình thức dùng sân khấu như công cụ giáo dục. Trong mô hình này, khán giả không chỉ thưởng thức đơn thuần mà còn có thể tham gia, thay đổi tình huống trên sân khấu. Ở nhiều nơi, phương pháp này còn được đưa vào trường tiểu học. Ví dụ, trẻ em được đặt vào tình huống giả định: nếu em là thị trưởng của thành phố, em sẽ làm gì? Khi đó các em thường chọn giải quyết những điều khiến mình khó chịu nhất, chẳng hạn như rác thải hoặc sự bẩn thỉu trong môi trường. Điều này giúp trẻ cảm nhận được quyền quyết định và trách nhiệm của mình. Theo tôi, khả năng sáng tạo cũng bắt đầu từ việc con người được phép hành động và thử nghiệm như vậy. Hiện nay, sân khấu diễn đàn vẫn còn được áp dụng rải rác. Một số giảng viên trẻ vẫn sử dụng phương pháp này trong lớp học của họ.


Trong cuộc trò chuyện ngắn này, có điều gì bà muốn sẻ chia mà người phỏng vấn chưa chạm tới không?
Tôi có một ước mơ đã ấp ủ từ rất lâu. Khi mẹ qua đời, đứng trước quan tài của bà, tôi đã hứa với mẹ rằng một ngày nào đó sẽ viết lại câu chuyện về cuộc đời bà. Mẹ tôi là người rất thích viết, lúc nào cũng ghi chép dày đặc. Sau này khi đọc lại những trang viết ấy, tôi nhận ra đó là một cuộc đời rất bình thường nhưng lại gắn liền với những biến động lớn của đất nước. Tôi mơ một ngày nào đó có thể kể lại câu chuyện ấy, một cuộc đời nhỏ bé trôi theo dòng lịch sử với nhiều đau thương. Câu chuyện đó, theo tôi, có thể giống như những bộ phim kể về một con người bình thường nhưng phản chiếu cả một thời đại.
Hồi đó, tôi cũng có cơ hội làm việc trong nhiều nhà tù. Ban đầu chỉ để biểu diễn cho phạm nhân xem, nhưng rồi tôi đã ở lại nghe họ kể chuyện, tập cho họ diễn kịch và cùng họ biểu diễn. Sau khi ra nước ngoài, tôi vẫn tiếp tục tham gia những dự án đưa sân khấu truyền thống vào trong nhà tù. Điều đó không hề dễ dàng, đặc biệt khi bạn đã rời khỏi Việt Nam. Tôi nhớ một trong những vở diễn có kết thúc rất đặc biệt: khán giả được mời phát biểu và kể lại câu chuyện của chính họ. Có những phạm nhân chia sẻ lý do vì sao họ rơi vào hoàn cảnh đó. Những câu chuyện ấy khiến tôi nhận ra rằng cuộc đời của mỗi con người đều có những khúc quanh rất phức tạp.
Như bà đã nói, mỗi con người đều có một khúc quanh rất phức tạp. Một người với rất nhiều vai trò như bà – nhà văn, nghệ sĩ, đạo diễn, giảng viên... hẳn còn đa nhân cách bội phần. Tỷ như làm một người viết thì giấu mình để lắng nghe quan sát, nhưng làm một người nghệ sĩ thì phải… chường ra?
Đúng vậy, phải chường ra để còn bán vé cho cả ekip. Chưa kể không chỉ chường ra đơn thuần, mà còn phải tạo scandal để thu hút sự chú ý của khán giả (cười). Tuy nhiên điểm chung của con người “n trong 1” này là sự tự do. Còn tự do ở mức độ nào, tự do như thế nào thì tùy theo hoàn cảnh và đối tượng mà mình đối diện.

Nếu có một thông điệp gửi đến thế hệ trẻ, bà sẽ nói gì?
Dù làm bất cứ nghề gì, mỗi người cũng phải giữ cho mình “hạt nhân xuất sắc” của bản thân. Đừng để hoàn cảnh bóp méo hay làm sai lệch điều mà mình biết là đúng.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam số tháng 04/2026
ĐỌC NGAY
Chloe Uyên Trần: Eureka giữa chợ hải sản
Credits
Images: RABHUU




