Có những công trình không chỉ là những khối bê tông, mà là ký ức sống của một đô thị. Dinh Độc Lập, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm, Nhà hát Thành phố hay Chợ Bến Thành – mỗi nơi đều gắn liền với thăng trầm lịch sử Sài Gòn, và phía sau đó là dấu ấn của những kiến trúc sư đã “vẽ hồn” cho thành phố này. Họ không chỉ thiết kế không gian, họ định hình tinh thần một thời đại
Những công trình kiến trúc biểu tượng của Sài Gòn vốn mang trong mình những lớp lang ký ức qua thời gian, đâu là những con người đã tạo hình cho những biểu tượng ấy? Cùng khám phá bức chân dung những người đã vẽ nên nét phác thảo đầu tiên, quyết định từng hình khối, khoảng trống, để rồi trao lại cho hậu thế một phần diện mạo của thành phố.
Cùng Tatler ngược dòng lịch sử, tìm về chân dung các kiến trúc sư đã đặt nền móng cho di sản kiến trúc Sài Gòn – không chỉ như những người làm nghề, mà như những nghệ sĩ lặng thầm viết tiếp hồn phố qua từng bản vẽ.
Xem thêm: Uống cà phê, tìm về di sản kiến trúc hiện đại Sài Gòn thế kỷ 20
Ngô Viết Thụ – Người đặt nền móng cho bản sắc hiện đại
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1927–2000) là một trong những tên tuổi quan trọng nhất của nền kiến trúc Việt Nam hiện đại. Ông là người Việt Nam đầu tiên giành giải thưởng danh giá Grand Prix de Rome (1955) hay còn được gọi với tên Khôi Nguyên La Mã – mở ra cánh cửa đưa kiến trúc nước nhà bước vào sân chơi toàn cầu.

Above KTS Ngô Viết Thụ thăm công trường Dinh Độc Lập trước khi ra sân tại Cercle Sportif Saigonnais. Sài Gòn, 1966. Ảnh: Tư liệu từ thư viện NgoViet Architects & Planners
Dinh Độc Lập – công trình biểu tượng mà ông thiết kế từ năm 1961 đến 1966 – là minh chứng rõ nét cho tư duy “hiện đại hóa mà không Tây hóa”. Ít ai biết, vị trí của Dinh Độc Lập không hề ngẫu nhiên. Ngô Viết Thụ đã lựa chọn đặt công trình ở vị trí “giao long cuộn khúc” theo thuật phong thủy phương Đông, đồng thời kết hợp cùng tư tưởng hiện đại Tây phương. Mặt bằng dinh được xây dựng theo hình chữ “吉” (cát) trong Hán tự, biểu tượng cho sự may mắn và thịnh vượng.
Xem thêm: Legacy 50: 5 điểm xem diễu binh trong lòng Sài Gòn ngày 30/4

Above KTS Ngô Viết Thụ vào khoảng cuối năm 1966, sau khi khánh thành Dinh Độc Lập. Ảnh: Tư liệu từ thư viện NgoViet Architects & Planners

Above Dinh Độc Lập đã được khánh thành: Mặt tiền Dinh Độc Lập có hình chữ «Hưng». Báo Tiếng Vang. 31/10/1966. Ảnh: Tư liệu từ thư viện NgoViet Architects & Planners
Vẻ ngoài của Dinh thể hiện sự cân đối, hiện đại theo trục trục đối xứng phương Tây, nhưng bên trong lại đậm chất Á Đông với mái hiên, lam gió, không gian mở giao hòa với thiên nhiên.
Ông không xây một “điện ngọc lầu son”, mà tạo ra một kiến trúc vị nhân sinh: từ hệ lam đá mô phỏng rèm che truyền thống đến kết cấu tường rỗng, tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên và thông gió, tất cả nhằm làm dịu cái nóng Sài Gòn. Không gian bên trong không chỉ dành cho quyền lực, mà còn thể hiện một tầm nhìn kiến tạo tương lai.
Triết lý của ông rất rõ: “Kiến trúc phải là sự tổng hòa giữa công năng, thẩm mỹ và tinh thần dân tộc.” Ông không chỉ thể hiện thành công triết lý đó của mình với Dinh Độc Lập, mà còn để lại dấu ấn ở Nhà thờ Phủ Cam (Huế), Viện Đại học Huế, Trường Nữ Trung học Lê Văn Duyệt…
Jules Bourard – Người mang kiến trúc Pháp vào nhà thờ Đức Bà

Above Nhà thờ Đức Bà thuở sơ khai
Jules Bourard là vị kiến trúc sư người Pháp được chính quyền thuộc địa giao thiết kế nhà thờ chính tòa Sài Gòn – nay là Nhà thờ Đức Bà. Bourard không để lại nhiều công trình, nhưng chỉ riêng Nhà thờ Đức Bà cũng đủ để ông ghi tên trong lịch sử kiến trúc Sài Gòn. Không như phong cách Gothic thường thấy ở châu Âu với những tháp cao vút, Bourard kiên định với những tiêu chuẩn khắt khe trong kiến trúc cổ điển, nhưng cũng chú trọng vào khả năng thích nghi với bối cảnh, đáp ứng nhu cầu của vùng khí hậu nhiệt đới. Điển hình là các cửa sổ trải dài trên hai tầng, được trang bị các cửa chớp để tối ưu lưu thông khí.
Đọc thêm: Legacy 50: Bách bộ quanh “Little Paris” và miền ký ức của thị dân Sài Gòn

Above Nhà thờ Đức Bà ngày nay. Ảnh: Unsplash / homnaychupgi
Kiến trúc Roman pha Gothic tạo nên một vẻ uy nghi nhưng tinh tế. Hai tháp chuông cao 57 mét như vươn lên giữa không trung – biểu tượng của một thời kỳ đô hộ nhưng đồng thời cũng là ký ức văn hoá tôn giáo gắn liền với bao thế hệ người dân thành phố. Từ loại gạch đỏ Marseille giữ được màu nguyên bản suốt hơn 140 năm, đến phần nền được xử lý đặc biệt để chống lún – mỗi chi tiết đều là sự kết hợp giữa kỹ thuật tiên tiến và sự thấu hiểu mảnh đất mình đặt công trình lên. Ngày nay, dù trải qua nhiều lần trùng tu, nhà thờ vẫn giữ được hình dáng ban đầu – là một minh chứng sống động cho sự cộng sinh văn hoá giữa Đông và Tây.
Đọc thêm: Legacy 50: Sài Gòn - Thành phố của những “lần đầu tiên”
Gustave Eiffel – Dấu ấn lặng lẽ trong kiến trúc Việt

Above Eiffel năm 1888, được chụp bởi Félix Nadar
Có rất nhiều tư liệu về du lịch và kiến trúc đã ghi nhận về sự đóng góp của Gustave Eiffel, hay cụ thể là công ty của ông - Société Gustave Eiffel et Cie - trong những dự án tại Việt Nam, và công trình được nhắc đến nhiều nhất là Bưu điện Trung tâm Sài Gòn. Tuy công trình này, trên thực tế, do kiến trúc sư Alfred Foulhoux thiết kế, nhưng kết cấu thép hiện đại và mái vòm lớn trong Bưu điện được cho là có sự hợp tác từ công ty Eiffel.

Above Không gian bên trong Bưu điện Sài Gòn ngày nay, ảnh chụp vào năm 2019. Ảnh: Unsplash / Lumi W
Năm 1863, kỹ sư Gustave Eiffel thành lập công ty riêng mang tên Gustave Eiffel et Cie (Société Gustave Eiffel et Cie). Đến năm 1872, công ty bắt đầu đặt chân đến Nam Kỳ, mở đầu cho một giai đoạn hoạt động tại khu vực này kéo dài đến năm 1889. Dù chỉ hiện diện trong một khoảng thời gian ngắn tại Nam Kỳ, những công trình mà Gustave Eiffel thực hiện tại đây từ năm 1872 đến 1890 lại mang nhiều giá trị đặc biệt. Giai đoạn đầu của công cuộc khai thác thuộc địa Pháp chứng kiến sự ra đời của tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho vào những năm 1880, một dự án trọng điểm có vai trò chiến lược.

Above Cầu Bình Điền. Ảnh: Les voies de communication en Cochinchine, R. Gentilini, 1886. Thư viện quốc gia Pháp
Bên cạnh đó, những cây cầu do công ty Eiffel xây dựng tại Nam Kỳ - điển hình như Cầu Bình Điền, cầu Tân An, hay cầu Rạch Lang, cũng là những dấu ấn mà đơn vị này để lại trên mảnh đất Việt Nam. Dù phải đối mặt với những khó khăn do hệ thống sông ngòi chằng chịt, những cây cầu này phản ánh một hướng phát triển khác trong kỹ thuật của Eiffel – đó là khả năng thích ứng với bối cảnh địa phương. Qua hệ thống cầu lắp ghép, các kỹ sư của hãng đã đưa ra những giải pháp linh hoạt, phù hợp với điều kiện hạn chế về thiết bị, nhân lực và kỹ thuật thi công tại thuộc địa, cho thấy tư duy bản địa hóa trong kỹ nghệ xây dựng của Eiffel ở thời kỳ này.
Félix Olivier – Người thổi hồn Paris vào biểu tượng văn hóa đời đầu
Nhà hát Lớn TP.HCM được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, mang phong cách Beaux-Arts do kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard và Eugène Ferret thiết kế. Kiến trúc mang đậm ảnh hưởng của nhà hát Opéra Garnier ở Paris – từ các cột Corinth cổ điển, phù điêu trang trí cho đến hệ mái vòm uốn lượn sang trọng.

Ban đầu, công trình này là biểu tượng của quyền lực và giới quý tộc Pháp ở Đông Dương. Nhưng trải qua bao thăng trầm, Nhà hát đã trở thành không gian biểu diễn của nghệ thuật Việt Nam – từ cải lương, nhạc giao hưởng đến ballet đương đại. Một điều ít ai biết: suốt gần 50 năm, mặt tiền nhà hát bị che bởi toà nhà Quốc hội (trong thời VNCH), khiến công trình gần như “vô hình” với người dân. Chỉ sau 1975, khi được trùng tu và trả lại đúng chức năng văn hóa nghệ thuật, Nhà hát mới thực sự “sống” đúng với mục đích của nó.
Félix Olivier có lẽ không hình dung được rằng, công trình ông thiết kế năm 1900 sẽ trở thành nơi chứng kiến sự chuyển mình của một đất nước. Nhà hát Thành phố không chỉ là một phiên bản thu nhỏ của Opéra Garnier ở Paris – mà còn là nơi thăng hoa của những giá trị văn hóa đô thị đầu tiên tại Sài Gòn.
Những kiến trúc sư ẩn danh – Chợ Bến Thành và hơi thở cộng đồng

Above Chợ Bến Thành những năm 1970. Ảnh: flickr / Tommy Japan
Khác với các công trình trên, Chợ Bến Thành không gắn liền với một tên tuổi KTS cụ thể. Tuy nhiên, việc xây lại chợ năm 1912–1914, do các kỹ sư người Pháp giám sát và thực hiện, đã tạo nên một biểu tượng dân sinh của Sài Gòn.
Tháp đồng hồ, các mái vòm thông gió và bố cục không gian mở giúp chợ luôn thông thoáng – phản ánh một tư duy thiết kế vì con người. Đây là nơi không có vẻ tráng lệ của Nhà hát hay uy nghi của Dinh, nhưng lại có nhịp sống sôi động, mùi hương, màu sắc và tiếng rao – tất cả tạo nên “di sản sống” của thành phố.

Above Chợ Bến Thành những năm 1970. Ảnh: flickr / Tommy Japan
Tháp đồng hồ, các mái vòm thông gió và bố cục không gian mở giúp chợ luôn thông thoáng – phản ánh một tư duy thiết kế vì con người. Đây là nơi không có vẻ tráng lệ của Nhà hát hay uy nghi của Dinh, nhưng lại có nhịp sống sôi động, mùi hương, màu sắc và tiếng rao – tất cả tạo nên “di sản sống” của thành phố. Hệ mái cao hình chữ U giúp thông gió tự nhiên, tháp đồng hồ 4 mặt là điểm định vị thị giác cho người dân suốt thế kỷ qua. Dù bị “xô lệch” nhẹ theo thời gian bởi nền đất lún, chợ vẫn bền bỉ hoạt động, phản ánh đúng tinh thần kiến trúc vị dân sinh.
ĐỌC THÊM
Legacy 50: NSND Kim Cương - Một đời sống, một đời sân khấu
Legacy 50: Những “Cô Ba Sài Gòn” của một thời vang bóng
Legacy 50: Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên và 10 năm theo đuổi giấc mơ “Địa đạo”
Topics




