Sài Gòn - nơi khởi nguồn của những “lần đầu tiên”, định hình sự phục hồi và phát triển của Việt Nam từ tháng ngày đấu tranh gian khổ, đến khi giải phóng và bước vào giai đoạn đổi mới
Sau những năm tháng khói lửa, Sài Gòn không chỉ hồi sinh mà còn vươn mình trở thành ngọn cờ đầu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Từ đống đổ nát và những khó khăn chồng chất, thành phố này đã chứng kiến và khai sinh ra không ít những “lần đầu tiên” mang ý nghĩa lịch sử, đặt nền móng cho sự thay đổi và tiến bộ trên phạm vi cả nước. Đó không chỉ là những dấu ấn kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn là những khát vọng, những nỗ lực vươn lên mạnh mẽ của một dân tộc. Hãy cùng Tatler Vietnam khám phá những “lần đầu tiên” đầy tự hào của thành phố mang tên Bác sau thống nhất.
Đọc thêm: Legacy 50: NSND Kim Cương - Một đời sống, một đời sân khấu
Tuyến đường sắt đầu tiên: Chứng nhân lịch sử chở theo khát vọng độc lập
Những năm tháng Nam Kỳ dưới ách đô hộ, khi guồng máy khai thác thuộc địa được người Pháp ráo riết vận hành, một ý tưởng táo bạo đã nảy sinh, đánh dấu bước chân đầu tiên của ngành đường sắt Việt Nam: tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho. Ngày 12/11/1880, Hội đồng thuộc địa đã trao quyền cho nhà thầu tư nhân Joret để hiện thực hóa giấc mơ “sắt” này, mở ra một chương mới trong lịch sử giao thông vận tải của miền Nam bấy giờ. Từ đầu năm 1881, tuyến đường sắt bắt đầu được xây dựng, kéo dài hơn 70km từ Sài Gòn xuôi về các tỉnh miền viễn Tây. Với nguồn lực dồi dào hơn 12 triệu franc và những vật liệu nhập khẩu từ Pháp, đội quân lao động hùng hậu hơn 11.000 người đã ngày đêm miệt mài, gấp rút hoàn thành một kỳ công chưa từng có.

Above Ảnh: otofun
Ngày 20/7/1885, đánh dấu sự ra đời của ngành Đường sắt Việt Nam khi chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Đông đến ga cuối cùng tại trung tâm thành phố Mỹ Tho. Hình ảnh đoàn tàu nhả khói, rầm rập trên những thanh ray thép, rồi kỳ vĩ vượt sông Vàm Cỏ Đông đã gieo vào lòng người Việt sự thích thú, ngưỡng mộ, và cả chút ngạc nhiên về một thế giới công nghệ xa lạ. Sài Gòn - Mỹ Tho là tuyến xe lửa lịch sử khi đã chứng kiến những thăng trầm trong gần 100 năm Pháp đô hộ Việt Nam. Nó đã chở nông dân Nam Bộ sục sôi khí thế đi qua những ngày Cách mạng Tháng Tám. Cũng chính nhờ con đường sắt này, vị thế của Mỹ Tho đã vượt trội hơn hẳn so với các đô thị Miền Tây khác.
Trong giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám (1945), tuyến đường sắt là phương tiện vận chuyển hiệu quả, cho phép các nhóm yêu nước di chuyển nhanh chóng, trao đổi thông tin và tổ chức các hoạt động bí mật. Tuy không phải tuyến đường chính cho hoạt động quân sự, nhưng nó đã góp phần tạo mạng lưới liên kết giữa các địa phương, qua đó hỗ trợ việc lan tỏa tư tưởng cách mạng và củng cố tinh thần đoàn kết của người dân Nam Bộ trong hành trình đấu tranh giành độc lập.

Above Ảnh: otofun
Thế nhưng, sự phát triển của ô tô và hệ thống đường bộ vào những năm 50 của thế kỷ XX đã dần thay đổi thói quen di chuyển của người dân. Những đoàn tàu dần vắng khách, và đến năm 1958, tuyến đường sắt lịch sử này đã ngừng hoạt động trong sự tiếc nuối của nhiều người. Dù chỉ tồn tại 73 năm, tuyến xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho đã in dấu sâu đậm vào đời sống, tình cảm, tập quán và văn hóa của người dân Nam Bộ, đặc biệt là vùng đất phía bắc sông Tiền. Những vần thơ truyền miệng, những câu ca dao lưu truyền trong dân gian, đã trở thành minh chứng sống động cho mối liên kết đặc biệt giữa con người và tuyến đường sắt đầu tiên này.
Ngày nay, dấu vết của tuyến đường sắt vàng son một thời chỉ còn là những ký ức trong lòng người lớn tuổi, những trụ cầu rêu phong, những nhà ga hoang phế rải rác dọc theo hơn 70km chiều dài. Tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhưng những “toa tàu” ký ức về một khởi đầu “sắt” trên đất Việt vẫn mãi lăn bánh trong dòng chảy lịch sử dân tộc.
Tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên: Ngôn ngữ mẹ đẻ “cất tiếng” giữa thời biến động
Giữa bối cảnh báo chí Việt Nam buổi sơ khai còn “đa thanh đa điệu” với Pháp ngữ, Hán tự… Gia Định báo (1865 - 1909) là tờ báo chữ quốc ngữ (tiếng Việt) đầu tiên ở Nam Kỳ, cũng là đầu tiên của cả nước duy nhất tồn tại ở Sài Gòn trong giai đoạn này. Tòa soạn báo nằm trong bộ phận thông ngôn của Nha Nội chính (Direction de l’Intérieur) Nam Kỳ. Địa chỉ tại số 59-61 đường De La Grandière (góc đường Đồng Khởi - Lý Tự Trọng ngày nay).

Above Trương Vĩnh Ký. Ảnh: Sách Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ 1757 đến năm 1945)
Sự ra đời của Gia Định báo, theo Nghị định của Chuẩn Đô đốc Pierre Gustave Roze, ban đầu được giao cho viên thông ngôn người Pháp Ernest Potteaux. Tuy nhiên, bước ngoặt quan trọng đến vào tháng 9/1869, khi Trương Vĩnh Ký được trao trọng trách chủ bút. Cùng với những cây bút tài năng như Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Tôn Thọ Tường… Gia Định báo dần định hình bản sắc, trở thành nơi hội tụ của những trí thức tâm huyết, đặt nền móng vững chắc cho nền báo chí Việt Nam non trẻ.
Dù không ít ý kiến nhìn nhận Gia Định báo như một công cụ tuyên truyền của chính quyền thuộc địa, nhưng không thể phủ nhận rằng, dưới sự điều hành của Trương Vĩnh Ký, tờ báo không chỉ đăng tải công văn, nghị định mà còn tích cực mở rộng nội dung với những bài khảo cứu lịch sử, văn hóa, nghị luận, thơ ca,... làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người đọc. Từ nguyệt san 4 trang khổ nhỏ, Gia Định báo dần chuyển mình thành bán nguyệt san rồi báo tuần, phản ánh sự phát triển và nhu cầu thông tin ngày càng cao của xã hội bấy giờ. Bằng cách phổ biến chữ quốc ngữ và khuyến khích học thuật, tờ báo đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của giáo dục và văn học Việt Nam, từ đó tạo tiền đề để các tư tưởng tiến bộ âm thầm lan tỏa, góp phần vào hành trình đấu tranh giành độc lập sau này.

Above Ảnh: Trần Đình Ba
Trải qua hơn 44 năm tồn tại, Gia Định báo đã trở thành một trong những tờ báo có tuổi đời dài nhất Việt Nam thời bấy giờ. Ngoài vai trò chính trị của nó, Gia Định báo đã mở đường và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt ngữ sau này, góp phần phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, với tư cách là tờ báo tiếng Việt đầu tiên và duy nhất lúc bấy giờ, Gia Định báo đã góp công to lớn trong việc truyền bá, hoàn thiện chữ quốc ngữ trong quá trình phát triển của văn học sử Việt Nam.
Siêu thị đầu tiên: Khai mở trải nghiệm mua sắm hiện đại
Nằm lặng lẽ tại góc giao thoa giữa đường Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh, quận 1, siêu thị Nguyễn Du đánh dấu sự xuất hiện của mô hình bán lẻ hiện đại đầu tiên trên cả nước. Với khát vọng đổi mới thị trường nội địa, siêu thị Nguyễn Du đã mạnh dạn kiến tạo một không gian mua sắm theo chuẩn phương Tây, nơi những chiếc xe đẩy hàng xa lạ, hệ thống điều hòa mát lạnh và những kệ hàng ngăn nắp với giá cả niêm yết đã mang đến một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ so với những khu chợ truyền thống quen thuộc.

Above Ảnh: thanhnien
Chỉ hơn một tháng sau ngày khai trương lịch sử, siêu thị Nguyễn Du đã hân hoan chào đón vị khách thứ 100.000. Công lao kiến tạo nên “kỳ quan mua sắm” này thuộc về ông Trần Đỗ Cung, một viên chức kinh tế đầy tâm huyết với nhiệm vụ bình ổn thị trường. Từ những ấp ủ đầu tiên vào tháng 2/1967, ông đã dẫn đầu một phái đoàn đi tham quan mô hình kho lương thực của quân đội Mỹ, rồi lặn lội sang Philippines, Singapore, Hồng Kông để học hỏi kinh nghiệm vận hành siêu thị từ những quốc gia đi trước.
Trong hồi ký, ông Cung vẫn còn nhớ như in không khí náo nức ngày khai trương, khi “cả đoàn xe Honda, Mobylette và Vespa rầm rập kéo đến chở vợ con hí hửng bước vào ngôi chợ tối tân mới mở cửa, phục dịch khách mua hàng một cách niềm nở và lịch sự”. Kể từ đó, siêu thị Nguyễn Du đã trở thành điểm đến quen thuộc của khoảng 2.500 lượt khách mỗi ngày, danh tiếng vang xa, truyền cảm hứng cho sự ra đời của nhiều siêu thị tư nhân khác trên khắp Sài Gòn. Tài năng và tầm nhìn của ông Trần Đỗ Cung còn được quốc tế công nhận khi ông được Học viện Siêu thị Thái Lan mời sang chia sẻ kinh nghiệm.

Above Ảnh: thanhnien
Trong những trang hồi ký “Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố”, nhà văn Phạm Công Luận đã khắc họa một cách sống động trải nghiệm lần đầu tiên đặt chân đến nơi đây. Đó là một không gian “giống một cửa hàng cực lớn, máy lạnh mát rượi và đầy những món lạ lẫm!”, nơi những vị khách lịch lãm trong trang phục áo chemise, áo dài cùng những người lính trang nghiêm thong thả lựa chọn hàng hóa. Dù không gian mát mẻ, nhưng vào những ngày cận Tết, không khí mua sắm vẫn vô cùng náo nhiệt, người mua tay lỉnh kỉnh những túi lưới, kiên nhẫn xếp hàng chờ thanh toán, một hình ảnh vừa lạ lẫm vừa đáng yêu của Sài Gòn xưa.

Above Ảnh: thanhnien
Dù sau năm 1975, siêu thị Nguyễn Du cùng nhiều cơ sở thương mại tự do khác đã tạm ngừng hoạt động, nhường chỗ cho nền kinh tế kế hoạch hóa, nhưng dấu ấn tiên phong của nó vẫn không phai mờ. Mãi đến năm 1993, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, những “hậu duệ” của nó mới thực sự trở lại, mang theo một kỷ nguyên mua sắm hiện đại và đa dạng cho người tiêu dùng Việt Nam.
Thư viện công cộng đầu tiên: Ánh sáng tri thức hồi sinh từ “vết sẹo” dân tộc
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM tiền thân là thư viện của các Ðô đốc, Thống đốc (Thư viện Soái phủ Nam Kỳ), được thành lập vào năm 1868 theo sắc lệnh của Phó Đô đốc Ohier. Đến 1882, thư viện đổi tên thành Thư viện Tư liệu Chính phủ Nam Kỳ thuộc Pháp, trở thành thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam. Năm 1972, thư viện chính thức đi vào hoạt động với tên gọi Thư viện Quốc gia Sài Gòn, rồi đổi tên thành Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM vào 1978 và tồn tại cho đến ngày nay.

Above Ảnh: Saigongiaiphong
Ít ai biết rằng, mảnh đất số 69 đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng, quận 1), nơi Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM uy nghiêm tọa lạc, từng mang trong mình vết sẹo của lịch sử khi là “Khám lớn Sài Gòn” - nhà tù đầu tiên của thực dân Pháp. Dẫu vậy, từ chốn tưởng chừng như chỉ có khổ đau và giam cầm, một không gian tri thức rộng lớn đã được khai sinh. “Viên đá” đầu tiên đặt xuống là khởi đầu cho một hành trình vươn lên mạnh mẽ, biểu tượng cho sức mạnh văn hóa và khát khao ánh sáng tri thức của dân tộc.
Thời điểm bấy giờ, đây là thư viện lớn nhất Việt Nam, một công trình kiến trúc độc đáo, hòa quyện giữa nét hiện đại và những họa tiết, hình học truyền thống Việt Nam tinh tế đúng như lời ngợi ca trong cuốn sách “Kiến trúc hiện đại Miền Nam Việt Nam”. Với đội ngũ 53 nhân viên và kho tàng 100.000 bản tài liệu quý giá, thư viện đã trở thành một biểu tượng văn hóa, một điểm tựa tri thức vững chắc cho người dân Sài Gòn và cả miền Nam.

Above Ảnh: Viện Kỷ Lục Việt Nam
Trong suốt gần nửa thế kỷ vàng son, Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM đã trở thành mô hình học tập tiêu biểu cho các thư viện công cộng và các trường đào tạo ngành thư viện, tiên phong trong công tác sưu tầm, số hóa và phát huy vốn tư liệu Hán Nôm, ứng dụng công nghệ thông tin và công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ bạn đọc. Ngoài ra, thư viện cũng đã thiết lập và thực hiện hiệu quả các mô hình thư viện số lưu động nhằm xóa đói thông tin, xóa mù công nghệ; mô hình sản xuất sách và phục vụ người khiếm thị có hiệu quả cho các thư viện trong và ngoài nước (như Lào, Campuchia…); mô hình về kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục chế và chuyển dạng tài liệu; tổ chức các chương trình phục vụ nông thôn mới và các hội thi cho thiếu nhi toàn thành phố.
Những quán cà phê đầu tiên: Khơi nguồn một dòng chảy văn hóa
Dẫu những công thức pha chế đầu tiên còn là ẩn số, Sài Gòn đã sớm đón nhận hương vị nồng nàn của cà phê từ những năm 1864, khi hai quán Lyonnais (nay trên đường Lý Tự Trọng) và Café de Paris (đường Đồng Khởi) chính thức khai trương. Từ những giọt cà phê ban sơ ấy, một dòng chảy văn hóa đặc trưng đã hình thành, trở thành người bạn tri âm, tri kỷ của bao thế hệ người Sài Gòn.
Đọc thêm: Uống cà phê, tìm về di sản kiến trúc hiện đại Sài Gòn thế kỷ 20

Above Ảnh: primecoffea
Trong ký sự “Đông Dương ngày ấy”, ngòi bút lãng du Claude Bourrin đã khắc họa một Sài Gòn mà những bàn cà phê san sát nhau bao quanh Nhà hát lớn, nơi hương vị ngào ngạt quyện vào không khí mỗi khi phố lên đèn.
Có lẽ, những quán cà phê đầu tiên của Sài Gòn đã “neo đậu” trên con đường Catinat (nay là Đồng Khởi), tuyến phố được người Pháp ưu tiên chỉnh trang ngay sau khi chiếm thành phố. Đặc biệt, “trục cà phê” huyền thoại gồm ba cái tên La Pagode, Givral, Brodard đã từng là trái tim của giới báo chí Sài Gòn. Nơi đây chứng kiến những tên tuổi lẫy lừng của làng báo quốc tế như Peter Arnett, Larry Burrows... miệt mài ghi lại những khoảnh khắc nóng bỏng nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam. Cũng tại đây, “tướng Givral” Phạm Xuân Ẩn, một nhà tình báo tài ba của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ẩn mình dưới danh nghĩa phóng viên tờ Time, đã quanh năm la cà tại quán quen ngay dưới văn phòng Hãng tin AP. Không khí đông đúc, nhộn nhịp tại đây cực kì lý tưởng để thu thập thông tin từ báo chí quốc tế và quan chức Mỹ, đồng thời là “vỏ bọc” cho các hoạt động tình báo cách mạng mà không bị nghi ngờ.

Above Ảnh: primecoffea
Quán cà phê Sài Gòn thuở ấy cũng là điểm hẹn của những thiếu nữ tân thời trong tà áo dài, những “anh chị” giang hồ khét tiếng và giới trí thức Sài thành... Dù những quán quen giờ đây đã lùi vào dĩ vãng, người Việt vẫn giữ thói quen cùng nhau thưởng thức những ly cà phê thơm nồng, gợi nhớ về một Sài Gòn đầy biến động.




