Nguyễn Thụy Đan là nhà thơ và nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia, lớn lên trong môi trường Âu Mỹ nhưng dành trọn đam mê cho Hán Nôm và lịch sử tư tưởng Việt Nam
Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, Nguyễn Thụy Đan sớm bộc lộ niềm say mê với Hán Nôm và văn chương. Dù không rõ nguồn cơn cụ thể, anh nhớ về những dấu mốc đầu tiên khi tiếp cận cổ ngữ. Lần đầu đặt chân đến Việt Nam ở tuổi 12, anh háo hức nhờ họ hàng tìm thầy dạy chữ Nôm, nhưng không thành. Thay vào đó, anh bắt đầu tiếp cận thông qua hai cuốn tự điển chữ Nôm và Hán Việt của Thiều Chửu. Năm 15 tuổi, trong một mùa hè về Việt Nam giúp việc các dì dòng Đức Bà Truyền Giáo, anh tình cờ được một bà soeur lớn tuổi giới thiệu những bài thơ Đường, mở ra thế giới văn chương mà anh gắn bó đến hôm nay.
Với Nguyễn Thụy Đan, việc tự học Hán Nôm không phải là một thành tích để tự hào hay khoe khoang, mà đơn giản là một phản ứng tự nhiên trước hoàn cảnh. Hiện là nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia theo diện học bổng, anh tập trung nghiên cứu về diễn ngôn và văn hóa sĩ phu cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Đồng thời, anh giảng dạy với vai trò trợ giảng tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á của trường. Bên cạnh công việc nghiên cứu, Nguyễn Thụy Đan còn là một nhà thơ. Năm 2024, tập thơ đầu tay của anh viết bằng tiếng Việt, in illo tempore, được Nhà xuất bản Thanh Niên và FORMApubli ấn hành tại Việt Nam.
Xem thêm: Nghệ sĩ calligraphy Đào Huy Hoàng và hành trình miên mật cùng chữ viết

Above Nguyễn Thụy Đan, Nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á
Chào Thụy Đan! Anh có nhớ cuốn sách tiếng Việt đầu tiên mình đọc không, và nó đã ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình tìm hiểu chữ Nôm của anh?
Tôi không nhớ chính xác, nhưng có lẽ đó là một trong hai cuốn Thánh Giáo Kinh Nguyện và Chân Lý Đời Đời. Thánh Giáo Kinh Nguyện là sách kinh của giáo phận Hà Nội, nhưng bản tôi đọc khi còn nhỏ là một ấn bản rất cũ, trong đó vẫn còn những lời cầu nguyện cho các bậc vua chúa và quan quyền cai trị nước An Nam. Còn Chân Lý Đời Đời là bản dịch từ trước tác của Alfonso Liguori – người sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế – với những suy niệm về sự ngắn ngủi và phù du của kiếp người, về cái chết, về sự thối rữa của xác thân… Câu trả lời này có lẽ hơi bất ngờ, nhưng nếu phân tích kỹ, tôi nhận ra mình đã chịu ảnh hưởng không ít từ những cuốn sách ấy. Ngay từ nhỏ, tôi đặc biệt thích lối văn nôm na trong các sách kinh Công giáo, tất nhiên là phong cách hành văn của thời trước, chứ không phải cách viết ngày nay. Có lẽ chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về chữ Nôm. Đọc nhiều sách như vậy cũng dần định hình cách tôi nhìn nhận và sử dụng tiếng Việt.

Above Nguyễn Thụy Đan, Nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á
Là một nhà nghiên cứu về lịch sử và ngôn ngữ, anh có nhận định gì về mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này trong việc hình thành căn cước của một dân tộc? Khi nghiên cứu những vấn đề này cho trường hợp của Việt Nam, theo anh, điểm nào là đáng chú ý và thử thách nhất?
Câu hỏi này khá phức tạp. Dòng chủ lưu trong học giới, đặc biệt là học giới Mỹ, có khuynh hướng phê phán và hoài nghi đối với vấn đề về căn cước dân tộc. Có thể nói, sự hình thành của những khái niệm về căn cước cá nhân và quần thể là một hiện tượng có thể nhận ra và phân tích trong nhiều giai đoạn lịch sử. Theo lối gọi và tư duy phổ thông thì một số những khái niệm này sẽ được hiểu là căn cước dân tộc. Tôi xin không phân tích ngọn nguồn một cách chặt chẽ theo kiểu học thuật. Trong trường hợp của Việt Nam, tôi nghĩ ngôn ngữ là một cánh cửa hé lộ những vấn đề không dễ dàng phân tích.
Đọc thêm: Những người phụ nữ ảnh hưởng nhất châu Á đang mở lối cho thế hệ nữ lãnh đạo tương lai
Sau nhiều năm thật sự “sống” và “thở” trong thế giới tư duy của người xưa, cụ thể là trong lưu trữ của những văn bản hiện tồn từ thế kỷ 18 và 19, tôi càng ngày càng không chắc là ở giữa chúng ta và tiền nhân có sự liên kết gì về mặt ngôn ngữ và tư duy hay không. Có nhiều nhân vật, có khi là đại đa số tầng lớp tinh hoa, dường như cả đời không hề viết tiếng Việt mà chỉ viết bằng Hán văn. Thậm chí có những người còn chỉ trích và lên án việc sáng tác bằng quốc âm. Chúng ta có thật sự hiểu được tư duy của những người như vậy không? Không những ngữ cảm của họ, mà kể cả đời sống tinh thần của họ, có lẽ khác chúng ta một cách gần như tuyệt đối. Kể cả khi đọc những văn bản viết bằng chữ Nôm – tức là những văn bản tiếng Việt xưa đều có khoảng cách nhất định với tiếng Việt thông dụng hiện nay. Đây là nơi sự hấp dẫn song hành cùng thử thách.
Để thật sự nghiên cứu người xưa một cách tinh vi và thấu đáo, chúng ta phải nhận ra khoảng cách giữa họ và chúng ta. Cách gọi họ bằng những từ ngữ mỹ miều như cha ông, tổ tiên, v.v. là một cái bẫy lớn giết chết khả năng tưởng tượng và tư duy. Nhưng chủ trương này rất dễ sa vào một cực đoan khác, là thái độ khinh bạc thường đi kèm chủ nghĩa giải cấu trúc. Bởi vốn, học thuật phải tinh tế, nhưng không bất cận nhân tình.

Above Nguyễn Thụy Đan, Nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á
Nếu có thể đặt một câu hỏi cho tiền nhân về lịch sử hoặc văn hóa Việt Nam, đó sẽ là ai và anh muốn hỏi điều gì?
Đây là lần đầu tiên có người đặt câu hỏi này với tôi. Ở thời điểm hiện tại, tôi đang đọc nhiều từ sĩ đại phu thời Tự Đức. Thế hệ này rất phức tạp và chưa được lưu ý một cách xứng đáng. Họ là những người sinh trưởng vào thời Gia Long, làm quan qua các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, và đương đầu với những biến cố lịch sử vô tiền khoáng hậu vào thời Tự Đức. Có thể nói là họ đã chứng kiến những bước thăng trầm lớn nhất của lịch sử Việt Nam thời cận hiện đại. Tôi sẽ muốn gặp một nhân vật như Vũ Phạm Khải hay Vũ Duy Thanh, tức là những người được xem như phái thủ cựu, nhất định không thỏa hiệp bất cứ điều gì với Tây phương, từ tôn giáo đến kỹ thuật. Khi đọc văn của họ (đương nhiên là họ chỉ viết bằng Hán văn), tôi thấy trình độ học thức và thẩm mỹ của họ là một đỉnh cao trong lịch sử Việt Nam thời cận hiện đại. Tôi khao khát hiểu sâu hơn về thế giới tư duy và văn hóa của họ: Họ đã được giáo dục ra sao? Đời sống tinh thần của họ được nuôi dưỡng như thế nào? Và quan trọng nhất, họ định nghĩa nền văn minh mà họ ra sức bảo vệ bằng cách nào?
Xem thêm: Thông điệp thời cuộc ẩn giấu sau vành mũ của Đệ nhất Phu nhân
Trong suốt quãng đời học tập của anh, có một người thầy hay một lời dạy nào theo anh mãi và ảnh hưởng lớn đến anh không?
Tết sau cùng trước khi qua đời, cố giáo sư Đàm Quang Hưng có chúc tôi “hãy làm một học giả lớn của Việt Nam.” Thầy Hưng với tôi không phải là nghĩa thầy trò mà là tình bạn vong niên. Lúc thầy chúc tôi như vậy, tôi còn chưa có ý nghĩ là sẽ theo học chương trình tiến sĩ. Đương nhiên, tôi cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ gia đình.
Khi lãng mạn hóa quá khứ và nhìn nhận lịch sử bằng tư duy hiện đại, chúng ta vô tình sử dụng truyền thống như một công cụ để tôn vinh chính mình
Vì một số lý do khách quan lẫn chủ quan, một số người trẻ (mà thậm chí cả không còn trẻ) tại Việt Nam ít quan tâm đến lịch sử và tiếng nói của dân tộc mình. Là một người từng đứng lớp giảng dạy về lịch sử và Hán Nôm, theo anh, có cách nào hiệu quả để khơi gợi câu hỏi về nguồn cội và giá trị truyền thống trong tâm thức người trẻ hay không? Ở đây, tôi không bàn đến những giải pháp tổng thể và vĩ mô mà chỉ muốn nói đến những gì một người làm giáo dục hay một người đi trước có thể làm được ở mức độ cá nhân, như những người thầy và lời dạy đã theo anh từ thuở nhỏ.
Tôi cho rằng chính bản thân trăn trở này – hoặc chí ít là cách đặt vấn đề sớm muộn cũng sẽ đi vào ngõ cụt. Ta có thể nhìn vào hiện tượng “cổ phục” hiện nay, vốn đã trở thành một phong trào đại chúng, để thấy một nghịch lý: y phục thời xưa về cơ bản không cho phép lựa chọn cá nhân, mà được quy định chặt chẽ theo hệ thống giai cấp xã hội. Thế nhưng, phong trào “Việt phục” ngày nay lại cổ vũ một thế giới quan hoàn toàn khác, thậm chí có phần đối lập so với văn hóa nguyên bản mà nó muốn tái hiện. Hơn nữa, bản thân khái niệm “Việt phục” là một sáng tạo hiện đại, không có cơ sở lịch sử rõ ràng.
Câu hỏi của anh cũng liên quan đến điều tôi vừa nói về tầm quan trọng của việc nhận thức khoảng cách giữa chúng ta và tiền nhân. Khi lãng mạn hóa quá khứ và nhìn nhận lịch sử bằng tư duy hiện đại, chúng ta vô tình sử dụng truyền thống như một công cụ để tôn vinh chính mình. Theo tôi, trước khi có thể đi sâu vào truyền thống, điều tiên quyết là phải rũ bỏ những định kiến có sẵn. Trong quá trình trao đổi với những người ngoài ngành, tôi thường xuyên phải dừng lại giữa chừng vì họ cho rằng mình đã hiểu rõ vấn đề – trong khi thực tế, họ còn chưa có nền tảng cần thiết để tiếp cận nó một cách đúng đắn. Ở cấp độ cá nhân, tôi nhớ đến một câu ngạn ngữ Latin: Nemo dat quod non habet – nghĩa là "Người không sở hữu thì không thể trao tặng." Nếu bản thân ta chưa thực sự lặn lội trong truyền thống, chưa hiểu rõ giá trị của nó, làm sao có thể truyền cảm hứng cho người khác?
Đừng bỏ lỡ: 4 triết lý thành công của tỷ phú Lý Triệu Cơ để lại cho giới bất động sản châu Á
Được biết, anh đã làm cha. Có bao giờ anh thoáng nghĩ về những cách biệt thế hệ giữa anh và con anh về sau này không, nhất là khi anh tự nhận rằng mình “sống” và “thở” nhiều trong thế giới tư duy của người xưa, và đặt trong bối cảnh nuôi dạy con cái trên đất Hoa Kỳ?
Nói thật là tôi có cảm giác cách biệt thế hệ với cả vợ tôi, huống chi là với con tôi. Tôi nghĩ là có nhiều nỗi niềm, thế hệ sau này sẽ khó hình dung, đừng nói đến việc chia sẻ với thế hệ trước. Việc sinh ra ở giao điểm nhiều thế hệ và biến cố lịch sử như vậy để rồi lúng túng không biết phải (hoặc nên) truyền lại điều gì cho thế hệ sau luôn ám ảnh tôi như một nỗi buồn hiện sinh thường trực. Có thể nói đấy là nguyên nhân chính thúc đẩy tôi tự tìm một phong cách thơ đương đại để ký thác những trăn trở không đơn thuần mang tính cá nhân, mà còn mang tính cộng đồng của cả một thời đại. Thời điểm hiện tại, vợ chồng tôi đang cân nhắc sau này sẽ tự giáo dục con cái ở nhà (homeschool). Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, nhiều mô hình và giả định cũ đã lỗi thời, cho dù không có điều gì trắng đen một cách tuyệt đối.

Above Nguyễn Thụy Đan, Nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á
Người viết phải đọc rất nhiều, đọc gấp mười lần, có khi gấp trăm lần so với việc viết
Với tư cách là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ và một nhà thơ, theo anh, trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngôn ngữ thi ca tiếng Việt cần thích ứng ra sao để vừa phát triển và hội nhập, vừa khiến người ta đọc vào thì biết ngay đó là thơ tiếng Việt viết bởi một nhà thơ người Việt, chứ không phải là một bản dịch tiếng Việt từ một bài thơ viết bằng tiếng nước ngoài?
Khi đặt vấn đề này trong bối cảnh lịch sử, chúng ta phải ý thức rằng khái niệm sáng tác bằng tiếng Việt một cách độc lập, không có liên quan đến một ngôn ngữ khác là một khái niệm tương đối mới, thậm chí mới đầy một trăm năm. Chúng ta vừa may mắn vừa bất hạnh khi sinh ra trong giai đoạn hỗn tạp này. Tiếng Anh đã phải trải qua vài thế kỷ tương tự. Thậm chí khái niệm xem văn chương tiếng Anh như một môn học chính đáng mới bắt đầu từ thế kỷ 20. Để bàn chi tiết về câu hỏi này, có lẽ tôi phải viết cả tập tiểu luận. Nếu tóm tắt thành một ý, tôi cho rằng người viết phải đọc rất nhiều, đọc gấp mười lần, có khi gấp trăm lần so với việc viết. Nhiều định kiến của chúng ta xuất phát từ chỗ đọc chưa đủ rộng, không tự thoát thân được khỏi phạm vi và hạn chế của thời đại và thế hệ.
Topics




