Hít thở bầu không khí thấm đẫm nghệ thuật ngay từ khi sinh ra, dịch giả, họa sỹ Trịnh Lữ xem mọi tạo tác đến từ bàn tay, khối óc của con người đều là nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật đích thực lại mang nhiều ý nghĩa sâu xa hơn thế. Và ý nghĩa đó, không thể đến từ điều gì khác ngoài nền tảng giáo dục
Trịnh Lữ là người yêu cái đẹp – ông hầu như chỉ vẽ những điều đẹp ông thấy, chỉ viết những thứ đẹp ông hay. Bản thân ông cũng là một hiện thân đẹp đẽ, với ánh mắt hiền từ và lời nói trầm ổn có thể khiến bất cứ ai từng có dịp trò chuyện cùng ông cũng cảm thấy tin cậy và trút mọi nỗi lòng. Ông thuộc lớp người - nghệ sĩ tinh hoa được sinh ra, lớn lên trong thời chiến, lập thân trong giai đoạn hòa bình, và giờ đây, đang neo giữ những giá trị tốt đẹp còn vương lại của một thời đã qua. Tranh ông lại không mấy khi phản ánh những xung đột, trăn trở của thời cuộc, mà hướng đến cái đẹp thuần khiết. Khó có thể nói điều này không đến từ ảnh hưởng của cha ông - họa sỹ, nhà thiết kế nội thất Trịnh Hữu Ngọc, người từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ưu ái gọi với cái tên “Monet Việt Nam”.
Nghệ thuật, cái đẹp, hay những ý vị mộng mơ tồn tại trong hoàn cảnh khó khăn có lẽ đã được khởi sinh từ đó - một nền tảng giáo dục từ tốn đến từ người cha, người mẹ, và gia đình tử tế một thời của Việt Nam.
Đọc thêm: Phỏng vấn Trần Lê Sơn Ý: Thơ như người thân và cuộc đời vang tiếng cười
Above Dịch giả, họa sỹ Trịnh Lữ
Trịnh Lữ không chỉ là một họa sỹ, dịch giả, mà còn là người chơi piano nghiệp dư và có nhiều tài lẻ khác. Với khả năng thiên bẩm về nghệ thuật, ông nhìn nhận nghệ thuật đóng vai trò như thế nào trong đời sống? Một đời sống không có nghệ thuật sẽ ra sao?
Tôi cho rằng, trong cuộc đời của mỗi con người, không ai là không có nghệ thuật. Tôi quan niệm, tác phẩm nghệ thuật không nhất thiết phải gói gọn trong các hình thức như tranh vẽ hay tượng điêu khắc. Một chiếc bàn, chiếc ghế hay chén uống nước cũng có thể được xem là tác phẩm nghệ thuật. Tôi nhìn mọi tạo tác của con người, kể cả là đồ vật phục vụ mục đích thực tế, cũng chứa đựng những cảm xúc và ý nghĩa nghệ thuật của người làm ra chúng.
Trên thực tế, khi tham quan các bảo tàng mỹ thuật, chúng ta vẫn thường thấy những đồ vật thường ngày từ hàng nghìn năm trước được lưu giữ, trân trọng và thậm chí có giá trị rất cao. Dù mức độ thể hiện nghệ thuật có khác nhau, tôi cho rằng tất cả đều là sản phẩm sáng tạo đều mang dấu ấn nghệ thuật. Nghệ thuật hiện diện ở mọi khía cạnh đời sống.
Dẫu vậy, nghệ thuật vẫn được xem như phương thức tối ưu để biểu đạt cảm xúc hay tâm tưởng của con người. Vậy những người không có khả năng nghệ thuật cao làm thế nào để thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình?
Cá nhân tôi cho rằng mọi hình thức diễn đạt đều sẵn sàng cho bất kỳ ai. Đừng nghĩ rằng chỉ có nghệ thuật mới giúp con người bộc lộ cảm xúc. Nếu không biết vẽ hay viết, con người vẫn có thể bộc lộ cảm xúc của mình thông qua lời nói, hành động, hoặc những cách biểu đạt khác để người ngoài hiểu được điều họ muốn truyền đạt. Tôi cho rằng, giao tiếp là sự tương tác tự nhiên trong cuộc sống thường ngày. Đôi khi, giao tiếp trực tiếp và thẳng thắn lại hiệu quả hơn nhiều.
Rõ ràng, những người sinh ra với thiên bẩm về nghệ thuật sẽ thể hiện bản thân qua những hình thức trau chuốt, chứa đựng nhiều tâm tư, nguyện vọng hơn. Tuy nhiên, ngay cả khi không có thiên bẩm, người ta vẫn có thể tạo nên những tác phẩm ý nghĩa, như làm đồ gỗ, búp bê, mô hình, cắt giấy, hay thêu thùa... Tôi nghĩ rằng tất cả những công việc sáng tạo này, thông qua sự lao động và tâm huyết của người thực hiện, đều mang dấu ấn cảm xúc, tình cảm và tư tưởng của họ. Đây chính là một cách để diễn đạt cảm xúc, suy nghĩ và tâm tư.

Tôi từng thực hiện một tập sách về 60 năm vẽ của mình, và đặt tên cho tập sách đó là: "Vẽ gì cũng là tự họa". Ý nghĩa của điều này không phải là mỗi bức tranh đều là chân dung của tôi, mà nó bộc lộ toàn bộ con người tôi – từ cảm xúc, tư tưởng đến tính cách. Chính vì vậy, mọi hình thức sáng tạo, dù là vẽ, viết hay tạo tác từ vật liệu, đều mang giá trị biểu đạt rất riêng.
Có 2 quan điểm nổi tiếng về nghệ thuật: “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”. Vậy ông nghĩ bản thân mình thuộc về trường phái nào, hoặc đồng tình với quan điểm nào hơn?
Tôi tin rằng nghệ thuật chắc chắn là vì con người, vì nhân sinh, chứ không có cái gì gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nếu định nghĩa nghệ thuật là sự giao thoa giữa con người với thế giới bên ngoài và nội tâm của mình, thì theo tôi, tất cả những gì con người tạo ra với ý thức làm đẹp và đúng theo mong muốn của mình đều là nghệ thuật. Không có chuyện làm nghệ thuật chỉ vì chính nghệ thuật, bởi bất kỳ ai khi sáng tạo cũng đều vì mong muốn thể hiện và phục vụ bản thân.
Đọc thêm: Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng: “Văn chương là biện pháp giúp ta kháng cự ảo tưởng”
Dù đó không phải là những vật phẩm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt thường ngày, nhưng những sản phẩm nghệ thuật vẫn có sức mạnh gợi cảm xúc, khiến ta chiêm nghiệm cuộc đời, thậm chí thay đổi cách nhìn của mình về thế giới. Tôi rất không đồng tình với quan điểm rằng nghệ thuật phải là thứ vô dụng. Đó là quan niệm phi lý của một số người thuộc thời kỳ mà thị trường nghệ thuật phát triển quá nhanh, cá nhân chủ nghĩa lên đến đỉnh điểm. Ở phương Tây, nhiều người cố tình thần thánh hóa nghệ thuật, xem nó là đặc quyền của một nhóm nhỏ tinh hoa. Nhưng theo tôi, những tuyên ngôn như vậy không đáng để ta tranh luận.
Ông nghĩ như thế nào về các hiện tượng nghệ thuật đương đại gần đây, khi nhiều tác phẩm ra đời với ý niệm mạnh mẽ và đề cao cái tôi của người nghệ sỹ nhưng lại không có nhiều giá trị về mặt thẩm mỹ? Việc đặt cái tôi người sáng tạo lên quá cao có khiến tác phẩm nghệ thuật chỉ còn mang tính chất thể hiện bản thân không, thưa ông?
Tôi cho rằng nghệ thuật trong thời đại mới, bắt đầu từ hàng trăm năm trước, đã dần bị “công cụ hóa”. Con người sử dụng nghệ thuật như một hình thức để tạo ảnh và vận động xã hội, hướng mọi người theo những trào lưu, phong trào cụ thể. Tất cả những điều này đều là cách mà nghệ thuật phản ánh thời cuộc, gắn liền với những thay đổi xã hội qua từng thời kỳ.
Trước đây, thế giới nghệ thuật không phải chịu áp lực từ những mục tiêu như vậy. Vai trò đó vốn thuộc về các nhà hoạt động xã hội hoặc những người làm cách mạng. Nhưng dần dà, các trào lưu xã hội đã lôi kéo cả những người nghệ sỹ – từ họa sỹ, nhạc sỹ đến các nhà sáng tạo khác – vào vòng xoáy này. Thậm chí, trong nghệ thuật tạo hình, có những trường hợp người nghệ sỹ phá bỏ mọi hình hài truyền thống để tự sáng tạo những hình thức mới, với hy vọng diễn đạt đúng ý nghĩa và mong muốn của bản thân. Điều này, theo tôi, là một biểu hiện cực đoan, và nó không phải là điều gì quá bất thường.
Vậy điều gì khiến ông nói rằng “hai chữ nghệ sỹ ngày nay đã bị lấm lem đi nhiều”?
Lấm lem, theo tôi, là tình trạng mà nghệ thuật ngày nay bị ảnh hưởng bởi các giá trị xã hội trong một bối cảnh mọi thứ trở nên quá phổ biến và dễ tiếp cận đến mức tràn lan. Khi con người không còn đặt sự khác biệt giữa người này và người kia lên bàn cân, và mọi thứ phải tuân theo những tiêu chuẩn và mô thức rõ ràng, thì nghệ thuật cũng bị kéo vào vòng xoáy. Không ai dám bộc lộ sự khác biệt thực sự, và những nhận xét về nghệ thuật cũng trở nên nhạt nhẽo. Chính những thái độ ấy làm mất đi cảm xúc chân thực khi thưởng thức nghệ thuật.
Thêm vào đó, tôi nhận thấy sự lấm lem còn nằm ở việc nghệ thuật hiện đại cố gắng phá vỡ các quy chuẩn truyền thống. Người ta tạo ra các hình thức nghệ thuật bằng cách dùng voi, khỉ, chó, mèo sáng tác nghệ thuật, hay thậm chí đưa màu sắc, vật liệu cho những người không có sự đào tạo cơ bản về nghệ thuật. Những cách tiếp cận này làm lệch lạc cách hiểu nghệ thuật từ xưa đến nay. Trong khi đó, nghệ thuật vốn là sự bộc lộ của con người, lúc nào cũng phản ánh mong muốn và cảm xúc của người sáng tạo. Nhưng giờ đây, những người có khả năng bẩm sinh và được đào tạo bài bản, có thể tạo ra những vật phẩm tinh tế với giá trị lớn, lại bị đặt ngang hàng với những hình thức sáng tạo đơn giản, không đòi hỏi sự tỉ mỉ và tài năng.
Tôi rất không đồng tình với xu hướng xóa bỏ giá trị nghệ thuật truyền thống. Thay vì tạo ra những bức tượng ca ngợi lý tưởng và bản lĩnh của con người như xưa, người ta chỉ cần cẩu một tảng đá từ núi về, đặt ở đó và gọi đó là tác phẩm nghệ thuật. Bất kỳ ai cũng có thể nói rằng mình đang làm “tác phẩm nghệ thuật”, và không ai có quyền phản biện nếu không phải là người trong nghề. Thậm chí có những trường hợp, nhiều lao công tại bảo tàng nhầm lẫn các sắp đặt nghệ thuật với rác rưởi và vứt bỏ đi.
Tôi tự hỏi, khi mọi thứ đều có thể được gọi là nghệ thuật thì giá trị thực sự của nghệ thuật ở đâu? Một tờ giấy bị vò nát có thể trở thành một “tác phẩm nghệ thuật”, nhưng điều đó chứng tỏ rằng nghệ thuật ngày nay không cần dựa vào bất kỳ tiêu chuẩn nào. Điều này làm nghệ thuật trở nên mờ nhạt, hỗn loạn trong tâm thức của con người. Đó chính là lý do khiến tôi cảm thấy rằng hai chữ “nghệ thuật” và “nghệ sỹ” đã bị lấm lem đi nhiều.
Theo ông, chúng ta có thể làm gì để hạn chế tình trạng này, hay liệu đây là một xu thế tất yếu của thời đại mà chúng ta buộc phải chấp nhận?
Tôi nghĩ rằng, với tình trạng này, tốt nhất là mình cứ “mặc kệ nó”. Bởi lẽ, mình là ai, mình là gì mà phải cố gắng ngăn cản xu thế? Nếu bây giờ mình cứ kêu ca rằng chất lượng nghệ thuật ngày càng đi xuống, thì cũng chẳng thay đổi được gì. Thời đại vốn có sự vận động, và mọi chuyện diễn ra đều phản ánh đúng thời thế. Vì vậy, tôi thấy mình không cần phải quay lại hay đặt trách nhiệm lên vai của bản thân. Tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé sống giữa mọi người, làm điều tôi yêu thích và giữ vững bản chất của mình.
Nhiều khi, tôi gặp người khác và thấy họ có những suy nghĩ giống như các nhà lãnh đạo, luôn muốn áp đặt rằng: “Không thể để tình trạng này tiếp diễn, cần phải dẹp bỏ ngay”. Nhưng tôi tự hỏi, dẹp bỏ để làm gì? Mọi sự việc xảy ra đều có lý do của nó. Khi đa số những người có sức ảnh hưởng trong xã hội giữ quan điểm như vậy, thì mọi người sẽ theo họ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi phải đồng tình hay tham gia. Đối với tôi, tốt hơn là chấp nhận và sống trọn vẹn với chính mình, thay vì cố gắng thay đổi những điều vốn dĩ thuộc về xu thế của thời đại.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật với cha là họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, mẹ là họa sỹ Nguyễn Thị Khang, cùng các anh chị em đều là họa sỹ hoặc nghệ sỹ piano. Vậy theo ông, giáo dục từ gia đình ảnh hưởng như thế nào đến việc định hình cốt cách, khả năng tư duy, hay tố chất của một con người?
Ảnh hưởng của việc học nghệ thuật từ gia đình là vô cùng sâu sắc. Với tôi, việc học vẽ hay chơi đàn từ bé không hẳn là để trở thành một nghệ sỹ chuyên nghiệp, mà đơn giản là để theo đuổi một nghề. Ngay từ nhỏ, bố mẹ của tôi đã dạy rằng nghệ thuật, đặc biệt là hội họa, là một nghề – một công việc làm đẹp cho cuộc đời. Nếu dùng cách nói ngày nay, tôi hay cả bố của tôi có thể được gọi là những “người thợ vẽ”. Khi bố của tôi vẽ, ông đặt cả tấm lòng vào tác phẩm, quan sát một cách tinh tế và trân trọng những chi tiết nhỏ nhất. Ông kết hợp tất cả những yếu tố ấy để tạo ra một hình ảnh mà có thể đi sâu vào tâm khảm người xem, khiến họ tái tạo lại nó trong tâm trí mình. Đây chính là quá trình sáng tạo nghệ thuật, nơi con người giao hòa với thế giới một cách rõ ràng và chân thực.
Quá trình này cũng có tác dụng giáo dục rõ ràng. Nó rèn luyện cho người học một lòng chân thực – nhìn nhận mọi thứ một cách thật thà, không áp đặt lợi ích cá nhân lên thế giới bên ngoài. Thay vào đó, chỉ đơn giản là quan sát và ngưỡng mộ cái đẹp, để hiểu tại sao nó lại đẹp như vậy. Khi nhìn thấy cả nét đẹp lẫn nét xấu, người học có thể ghi lại được tất cả qua từng nét vẽ. Một bức tranh hoàn thành không chỉ là kết quả của vài giờ đồng hồ, mà còn là minh chứng cho một giai đoạn, một quá trình hòa nhập giữa người nghệ sỹ và thế giới bên ngoài.
Tôi cho rằng ý nghĩa giáo dục lớn nhất của nghệ thuật nằm ở việc rèn luyện một tâm thức trung thực, một nhân cách ngay thẳng và một thói quen quan sát, trân trọng vẻ đẹp xung quanh, ngay cả những thứ bình dị nhất. Khi nhìn thấy vẻ đẹp ấy, người ta sẽ ngưỡng mộ, tôn trọng và nâng niu nó, từ đó biết quý trọng cuộc sống giản dị và thế giới bình thường. Đây là tác dụng giáo dục hết sức cụ thể, nhưng lại thường bị bỏ qua.
Theo ông, liệu giáo dục từ gia đình có phải là nền tảng cơ bản và quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách và phát triển của con người hay không?
Tôi nghĩ rằng câu nói của Mẹ Teresa, “Nếu muốn thay đổi thế giới, hãy về nhà và yêu thương gia đình mình”, là một chân lý sâu sắc và đúng đắn. Càng suy ngẫm, tôi càng nhận ra rằng sự thay đổi chỉ có thể bắt đầu từ chính bản thân mỗi người. Nếu không tự thay đổi, nếu không có tình yêu trong lòng, thì làm sao có thể tác động đến thế giới xung quanh?
Các nhà tư tưởng và triết gia cũng đều thừa nhận rằng muốn thay đổi thế giới, trước tiên cần thay đổi từ cá nhân – từng con người một. Và nền tảng của mỗi con người chính là gia đình. Một gia đình được xây dựng từ tình yêu sẽ hoàn toàn khác biệt so với những gia đình không có tình yêu. Mọi thứ đều cần có ý nghĩa đúng đắn của nó. Đáng buồn thay, hiện nay, có nhiều gia đình chỉ tồn tại như một quy ước xã hội, thiếu vắng tình yêu và sự gắn kết thực sự. Những gia đình như vậy giống như sự trao đổi, “trả nợ” lẫn nhau, làm mất đi bản chất và giá trị đích thực của một gia đình.
Một gia đình đúng nghĩa phải là nơi mọi người đến với nhau bằng tình yêu, cùng nhau xây dựng và nối dài cuộc sống. Đó là nơi tạo dựng nền tảng vững chắc, không chỉ cho các cá nhân trong gia đình mà còn cho cả xã hội. Vì vậy, để tạo ra sự thay đổi lớn lao hơn, trước hết, mỗi người cần học cách yêu thương và chăm sóc gia đình mình.
Ông từng chia sẻ rằng mình chịu ảnh hưởng rất nhiều từ cha. Vậy có những bài học, triết lý hoặc câu chuyện nào từ cha ông đã để lại dấu ấn sâu sắc mà ông vẫn tiếp tục truyền lại cho con cháu thế hệ sau?
Có 5 điều từ bố mà tôi luôn ghi nhớ. Thứ nhất, để trở thành nghệ sỹ, trước tiên anh phải là một con người tự do. Tự do ở đây không chỉ là sự tự do trong cuộc sống, mà còn là sự tự do trong tư tưởng, trong cách nhìn nhận và tiếp cận nghệ thuật. Một con người tự do thực sự sẽ không bị ràng buộc bởi những định kiến, quy tắc cứng nhắc, mà sẽ luôn tìm kiếm sự sáng tạo và thể hiện bản thân một cách chân thật nhất.
Thứ hai, nghệ thuật không chỉ là đam mê mà còn là một nghề – một công việc đòi hỏi sự nghiêm túc, trách nhiệm và tận tâm. Nghệ thuật cần được xem như một nghiệp – một lẽ sống gắn bó mật thiết với con người. Đó không chỉ là phương tiện để mưu sinh mà còn là cây cầu nối giữa con người với cuộc đời. Làm nghệ thuật cũng giống như làm một nghề thủ công: cần sự khéo léo, tỉ mỉ và không ngừng học hỏi để hoàn thiện. Tôi luôn tin rằng, trước khi trở thành nghệ sỹ, trước hết phải là một người thợ lành nghề. Khi đã nắm vững kỹ năng, đạt đến sự điêu luyện và kết hợp với cảm xúc, tư duy của mình, lúc đó nghệ sỹ mới thực sự làm chủ được sáng tạo của bản thân.
Thứ ba, nghệ thuật không chỉ đơn thuần là làm đẹp, mà còn là để xây dựng và thúc đẩy một nếp sống văn minh. Một không gian được thiết kế có ý thức không chỉ mang lại sự thẩm mỹ mà còn tác động đến cách con người sống, làm việc, và kết nối với nhau. Đây không chỉ là việc tạo ra các sản phẩm nghệ thuật, mà còn là việc xây dựng những giá trị lâu dài cho cuộc đời.
Thứ tư, nghệ thuật là một hành trình mà ở đó, sự quan sát và cảm nhận rất quan trọng. Từ những bài học đầu đời, tôi được dạy phải quan sát thật kỹ, thật sâu sắc; để đôi mắt thấu hiểu cái đẹp, đôi tay thực hiện những nét vẽ, và để tâm hồn hòa quyện với thiên nhiên. Việc này không chỉ là một kỹ năng trong nghệ thuật, mà còn là một cách thiền định – một trạng thái tâm hồn an yên, giúp mỗi người kết nối với bản thân và thế giới xung quanh một cách chân thành.
Cuối cùng, tôi cho rằng một trong những bài học quan trọng nhất mà mình rút ra chính là ý thức giữ gìn và trân trọng từng vẻ đẹp, ngay cả những thứ bình dị và giản đơn nhất trong cuộc sống. Khi mình nhìn thấy được vẻ đẹp của những điều nhỏ bé, mình học cách ngưỡng mộ, nâng niu và cảm nhận giá trị thực sự của cuộc sống. Đó là một bài học nhân văn sâu sắc, không chỉ áp dụng trong nghệ thuật mà còn trong mọi khía cạnh đời sống.
Theo ông, cách giáo dục con cái trong gia đình ngày xưa có gì khác biệt so với thời hiện nay? Những giá trị nào vẫn được giữ gìn, và những điều gì đã mai một?
Theo tôi quan sát, thời xưa, con cái thường nhìn theo bố mẹ mà sống, và bài học đầu tiên mà trẻ nhỏ nhận được là học từ chính gia đình. Ông bà, cha mẹ hay thầy cô trong trường dạy trẻ con những điều rất thực tế và cụ thể. Như ông bà thường nói, “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trẻ lớn lên cần học cách cư xử tử tế với anh chị em, học cách ăn nói, và cách xử lý những việc nhỏ nhặt. Những điều này giúp trẻ tự nhiên hiểu và biết đối xử sao cho đúng với mọi người trong gia đình, bạn bè, thầy cô.
Ngày xưa, mỗi gia đình thường có một nghề cụ thể, được coi là “nghề gia truyền”. Cả bố mẹ và con cái cùng lo liệu, làm việc, ý thức được tầm quan trọng của nghề nghiệp gia đình và có trách nhiệm vun vén, giúp đỡ lẫn nhau. Phần lớn nghề nghiệp ngày xưa được truyền lại cho con cái thông qua những sinh hoạt hàng ngày, rất tự nhiên và giản dị, chứ không phải qua những lý thuyết phức tạp hay to tát. Thế nhưng, giờ đây, tôi nhận thấy khi đến trường, trẻ được dạy nhiều khái niệm to lớn, đôi khi xa vời, mà lại ít nhắc nhở về cách hành xử ở gia đình.
Vậy làm thế nào để chúng ta có thể gìn giữ được những nét đẹp truyền thống như vậy trong cuộc sống hiện đại?
Tôi không biết liệu có nên giữ gìn những giá trị cổ truyền hay không, vì những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại đã khác hoàn toàn với thời xưa, và tôi nhận thấy rằng cách dạy dỗ con cái trong gia đình cũng như các giá trị đạo đức đã thay đổi rất nhiều. Giờ đây, khoa học công nghệ đã đạt đến mức độ tích hợp cao, và có nhiều điều mà ngày xưa người ta cho là cần thiết thì nay lại trở nên không còn quan trọng nữa. Ví dụ, ngày xưa, việc đi học đòi hỏi trẻ phải nắn nót viết chữ bằng tay với các loại ngòi bút, nhưng giờ đây, học sinh đã có máy tính, đủ các thiết bị hiện đại, thậm chí còn có cả trí tuệ nhân tạo. Chính phủ hiện nay cũng yêu cầu việc giáo dục về AI phải được bắt đầu từ bé.

Tôi nghĩ, câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có cần giữ những giá trị giáo dục truyền thống, hay cần chuẩn bị cho thế hệ trẻ một hành trang phù hợp với sự phát triển không ngừng của xã hội hiện đại, để sẵn sàng cho những thách thức trong tương lai.
Theo ông, điều căn bản nhất để giáo dục cho một đứa trẻ là gì?
Theo tôi, bố mẹ chính là tấm gương sáng nhất để con cái noi theo. Từ lời ăn tiếng nói, cách vợ chồng đối xử với nhau trong gia đình, đến các hành động thường ngày đều được con cái quan sát và ghi nhớ. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng không có điều gì qua được mắt trẻ con cả. Ông bà ta từ xưa đã có câu: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, bởi trẻ nhỏ thường biết rất rõ những gì diễn ra trong gia đình.
Điều quan trọng nhất là khi vẫn giữ đơn vị gia đình, là bố mẹ chính là người giáo dục đầu tiên. Hãy lấy chính việc sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày làm phương pháp hướng dẫn và dặn dò con cái. Theo tôi, đó chính là sự thực tế và cũng là “ngôi trường đầu tiên” để trẻ học hỏi những giá trị cốt lõi.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam số tháng 04/2025
ĐỌC NGAY
Chảy Concept: Triển lãm của hội họa, âm nhạc và những trải nghiệm chưa từng có
Đọc “Thế giới không hồi kết” – Một khảo sát bằng hình vẽ về lịch sử tiêu thụ và ảo vọng phát triển
Legacy 50: Hồi ức từ trái tim của họa sĩ Hà Huy Chương qua những bức tranh cổ động
Credits
Images: NVCC, Thảo Hiền, Tatler Vietnam (Sự kiện Con giáp của tôi)
Topics




