Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng, một trong những gương mặt lặng lẽ nhưng đáng nhớ trong giới xuất bản, chia sẻ những suy nghĩ chân thành và giàu trải nghiệm về văn hoá đọc
Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng là một trong những gương mặt lặng lẽ nhưng đáng kể trong giới xuất bản, người chọn cách sống và làm việc xoay quanh sách như một định mệnh chậm rãi và sâu sắc. Từ nhỏ được nuôi dưỡng trong một gia đình yêu văn chương, lớn lên lại gắn bó với nghề biên tập và dịch thuật, ông nhìn việc đọc như một nhu cầu tinh thần, không nhằm đạt được điều gì cụ thể, mà là để giữ sự cân bằng nội tâm, nuôi dưỡng cái đẹp và trí tuệ. Trong cuộc trò chuyện này, ông chia sẻ những suy nghĩ chân thành và giàu trải nghiệm về văn hoá đọc - khái niệm tưởng như quen thuộc nhưng hóa ra vẫn cần được định nghĩa lại trong đời sống hiện đại, nơi tốc độ tiêu thụ thông tin thường lấn át chiều sâu.
Xem thêm: Dịch giả Bùi Xuân Linh: “Lấy người đọc làm trung tâm, sẽ hình dung ra những gì người đọc mong đợi”

Above Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng. Ảnh: Kỳ Anh Trần
Chúng ta rất thường thấy và nhắc đến cụm từ “văn hoá đọc”. Theo góc nhìn của của anh, “văn hoá đọc” ở đây nghĩa là gì?
Cụm từ này người ta đã thảo luận nhiều rồi, và có thể nói là một sự thống nhất tương đối về nội hàm của nó. Văn hoá đọc là hành động đọc không vụ lợi, không vì lợi ích thực tiễn, đọc chỉ vì đó là một thú vui, một cuộc tìm kiếm sự cân bằng trong tâm hồn và truy cầu cảm xúc thẩm mỹ.
Nghĩa là không bao gồm những sách vở về chuyên ngành, kiến thức?
Khi một kỹ sư cơ khí đọc sách về chế tạo máy, một nhà môi giới chứng khoán đọc “Nhà đầu tư thông minh”, một luật sư đọc sách về luật quốc tế, thì đó là họ đọc để phục vụ ngành nghề của họ, sự nghiệp của họ, một hành động đọc nhằm mài sắc kỹ năng chuyên môn, nhắm đến lợi ích thực tiễn. Tuy nhiên, tôi không cho rằng cái gọi là “văn hóa đọc” bao hàm cả hành động đọc đó. Đọc theo nghĩa này thì không khác với học sinh phổ thông đọc sách giáo khoa: nó là bổn phận của họ, không làm không được. Một hành động đọc chỉ xứng đáng được coi là một phần của “văn hoá đọc” nếu như nó là một hoạt động vô vụ lợi; chứ không phải để “được cái gì”. Anh đọc chẳng phải vì ai bắt buộc anh, chẳng phải nhắm đến bất cứ lợi lộc vật chất nào hết: một sự đọc hoàn toàn vì mục đích tinh thần.
Văn hoá đọc như chúng ta biết là thứ cần được xây dựng và bồi bổ, nhưng liệu có bao giờ nó đến từ “bẩm sinh”? Một người sinh ra sẽ có sẵn cái “văn hoá” ấy trong mình?
Tôi cho là cả hai.
Tất nhiên, như bạn nói, văn hoá đọc là một thứ mà thế hệ trước nên và có thể truyền thụ, ươm mầm cho thế hệ sau. Trước hết, nó là việc mà toàn xã hội phải làm. Xã hội phát triển là một xã hội đạt mức độ cao về mọi mặt, không chỉ kinh tế, luật pháp mà cả văn hóa. Một xã hội phát triển cao về mặt văn hóa thì tự khắc sẽ có cách để vun bồi, nâng cao trí tuệ người dân, và văn hoá đọc, khuyến đọc, chính là một trong những cách để thực hiện điều đó. Đây là việc của tất cả mọi người, không của riêng ai. Mặt khác, ở cấp độ vi mô, nếu như trong một gia đình mà cha mẹ vốn dĩ có ý thức và niềm yêu thích văn chương thì lẽ nào họ lại không sẵn sàng và không biết cách truyền lại nó cho con cái? Bản thân tôi là minh chứng cho điều đó. Mẹ tôi là giáo viên dạy văn. Từ khi tôi năm, sáu tuổi bà đã thường xuyên đọc thơ cho tôi nghe, những đoạn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, những bài Thơ Mới… …và tôi lớn lên với cả một tủ sách bề thế của mẹ. Sự đọc đến với tôi một cách tự nhiên như vậy.
Nhưng rồi, ngoài việc được nuôi dưỡng từ gia đình và khuyến khích từ xã hội thì vẫn có những trường hợp đặc biệt, những thiên hướng ham mê đọc sách dường như luôn có sẵn ở bên trong, nằm “thiu thiu ngủ”, chỉ cần một “tia lửa” là thức dậy. Đó là trường hợp một người bạn của tôi, trước đây từng làm biên tập viên. Anh sinh ra ở một thành phố lớn miền Tây, gia đình khá giả, hoàn toàn không hề có truyền thống hiếu học, “hay chữ”. Bản thân anh cũng thế, suốt những năm phổ thông anh không đụng vào một quyển sách nào ngoại trừ sách giáo khoa, như chính anh kể với tôi. Mãi đến khi lên thành phố để học đại học, vào nhà sách, vào thư viện, nhìn thấy bao nhiêu là sách bao quanh mình, anh mới “bừng tỉnh” và cái thiên hướng chữ nghĩa bỗng trỗi dậy từ bên trong anh. Cuộc đời anh thay đổi từ đó, anh trở thành một người đọc đúng nghĩa, đọc rất chuyên tâm, đọc rất sâu.
Đừng bỏ lỡ: Hoài niệm cổ điển bên trong những hiệu sách ở Paris
Việc đọc sâu như anh nói đó là đọc như thế nào?
Anh bạn này không bao giờ hài lòng với chuyện chỉ đọc một hai tác phẩm của một tác giả. Ví dụ như Flaubert, anh không chỉ đọc “Giáo dục tình cảm” hay “Bà Bovary” mà còn đọc cả những cuốn ít nổi tiếng hơn của ông, đọc những nguời cùng thời Flaubert, đọc các tiểu luận phê bình về tác phẩm này, về tác giả này, rồi đọc hàng quyển sách của chính các nhà phê bình ấy. Nếu tôi không lầm, ở Việt Nam rất hiếm ai đạt tới một sự đọc chuyên tâm và sâu đến như thế.
Nhân nói chuyện này: ở nước ta, chỉ ở vài thành phố lớn có tiếng là “trung tâm văn hóa” (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế…) ta mới có thể gặp nhà sách đúng nghĩa mà thôi. Ở hầu hết các tỉnh thành khác, kể cả thành phố (khá lớn) thủ phủ của tỉnh, cái gọi là “nhà sách” thật ra chẳng bán gì khác ngoài bốn thứ: sách giáo khoa, văn phòng phẩm, quà lưu niệm, đồ chơi trẻ em. Nói thế để thấy, bối cảnh thực tế ở nước ta là như thế nào, và khuyến đọc nói riêng, nâng cao dân trí nói chung là một vấn đề bức thiết như thế nào.

Above Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng. Ảnh: Kỳ Anh Trần
Anh có cho rằng một trong những lý do việc đọc sách, ở đây là sách văn chương như chúng ta đang chuyện trò từ đầu đến giờ; là do ảnh hưởng của kinh tế? Vì lẽ hiển nhiên ai trong chúng ta cũng biết. Phải “no đủ” thì mới nghĩ tới việc thưởng thức cái đẹp, thưởng thức văn chương, bồi bổ tâm hồn. Nhưng, tôi lại thấy một nghịch lý rằng thời ông bà xa xưa họ khó khăn về mọi mặt so với chúng ta ngày nay nhưng họ lại đọc sách nhiều hơn và ý thức về việc đọc rất cao. Lẽ nào hậu thế sống trong thời bình, ổn định như bây giờ lại thua những tiền nhân?
Chúng ta đang sống trong một ảo tưởng khổng lồ mà những nhóm lợi ích đang ra sức vẽ ra cho chúng ta. “Hãy nhanh lên, nhanh nữa lên, khẩn trương lên, khẩn trương nữa lên”, các ảo tưởng ấy nói. Để làm gì? Để được cái gì? “Được chiếc xe sang, chiếc điện thoại đời mới nhất, kỳ nghỉ ở resort xa xỉ nhất”, các ảo tưởng ấy nói. Có bao nhiêu người trong chúng ta, thay vì cứ mãi mãi để cho các ảo tưởng ấy che mắt, và rồi đặt ra cho chính mình câu hỏi: “Cứ nhanh nữa lên, nhanh mãi lên, mua thêm đi, mua thêm nữa đi, cứ vậy bao giờ cho đủ? bao giờ thì dừng?” Và, cũng từ sự ám thị rằng cái gì cũng phải nhanh, việc đọc cũng bị biến tướng; những mô thức đọc rút gọn, đọc tóm tắt thay vì đọc trọn, đọc sâu (vì không đủ thì giờ) đang ám quẻ không chỉ Việt Nam mà cả thế giới. Giờ đây bạn có thể dễ dàng tìm một quyển tóm tắt Hamlet, chẳng ít người tìm đọc những quyển như thế thay vì bỏ công đọc nguyên tác “Hamlet”. Không chỉ văn chương, mà điện ảnh cũng đang đối diện với điều này: người ta xem những clip tóm tắt và lấy làm hài lòng rằng mình đã “xem xong phim”. Không có gì thảm hại hơn thế cho giá trị tinh thần của loài người.
Trong hoàn cảnh như thế, văn chương - cần nhấn mạnh là văn chương “nghiêm chỉnh” - là một trong những biện pháp của con người để kháng cự lại cái ảo tưởng tập thể đó, giống như nhan đề một cuốn sách tuyệt vời về chính vấn đề đó: “Melancholy of Resistance”, tạm dịch là “Nỗi buồn kháng cự”, của Laszlo Krasznahorkai, nhà văn kiệt xuất người Hungary.
Cố nhiên là, bên cạnh đó, có không ít tác phẩm văn chương/điện ảnh… hoàn toàn không kháng cự, mà ngược lại, đẩy con người sâu hơn vào ảo tưởng.
Đó là những tác phẩm thế nào?
Nói đơn giản, đó là những tác phẩm mà, đọc xong, người ta không có bất cứ tự vấn nào; trong tim óc họ không nảy ra bất cứ câu hỏi nào. Đọc xong, họ vẫn thấy xung quanh chẳng có vấn đề gì cả, mọi thứ - trước hết là bản thân những gì họ nghĩ, họ tin - đều ổn. Đọc xong, chẳng có gì phải nghĩ. Xem xong, chẳng có gì phải nghĩ. Đó là văn chương, điện ảnh… giải trí; giúp con người tiếp tục an tâm sống trong ảo tưởng.
Nếu, tâm trí ta đủ mạnh, ta sẽ dễ dàng nhìn ra xã hội hiện đại đầy rẫy những vấn nạn, đầy rẫy những câu hỏi khó giải đáp. Một tác phẩm văn chương đích thực là tác phẩm khiến ta phải liên tục trăn trở, khiến ta giật mình trước những gì ta vẫn đinh ninh là đúng, khiến ta cảm thấy mình phải khác chính ta ngày hôm qua bằng một cách nào đó, về mặt nhận thức, về mặt tinh thần.
Đọc thêm: Đọc “Thế giới không hồi kết” – Một khảo sát bằng hình vẽ về lịch sử tiêu thụ và ảo vọng phát triển
Từ sau khi Han Kang được giải Nobel 2024, mọi người bắt đầu bàn luận nhiều về những tác phẩm đại diện cho những lời thì thầm cá nhân. Bên cạnh những kinh điển văn chương kể câu chuyện của cả thế hệ, cả đất nước thì những lời thì thầm đó vẫn mang giá trị tương đương chứ, theo anh?
Nào có ai định nghĩa rằng văn chương “là phải” kể câu chuyện “lớn” (cả một thế hệ, cả một đất nước, cả một thời đại) chứ không phải những câu chuyện thì thầm riêng tây đâu nhỉ? Tác phẩm văn chương thành công là tác phẩm làm rung động mạnh mẽ cả lý tính lẫn cảm xúc của con người, bất kể nó kể câu chuyện “to” hay câu chuyện “nhỏ”.
Có những ý kiến khá cực đoan, cho rằng việc đọc các tiểu thuyết diễm tình, ngôn tình lãng mạn không phải là đang đọc văn chương. Anh có từng nghĩ “cực đoan” như thế không?
Tôi không cho là thế.
Nói cho vui thì văn chương, điện ảnh cũng như đồ ăn thức uống, có loại này loại kia, tùy theo “tạng” của mỗi người, và tùy theo nhu cầu từng lúc từng nơi. Không phải ai cũng cảm được Kafka hay Dostoevsky. Có người thay vì Dostoevsky thì thích Lev Tolstoy. Có người chỉ đọc Marc Levy thôi. Hoặc bản thân tôi, nhiều lúc “thèm” một phim “khó nhằn” của Andrey Tarkovsky, David Lynch, Thái Minh Lượng… nhưng cũng có khi cần thả lỏng, chỉ xem “Squid Game” hay “Pachinko”. Mặt khác, “nâng cao dân trí” là một quá trình dài, cần tiến hành từng bước, một cách kiên trì. Chẳng hạn, nếu chúng ta khuyến khích đúng cách, thì một độc giả bình thường nào đấy có thể vừa đọc Marc Levy vừa đọc Lev Tosltoy, sao lại không? Chẳng có lý gì để cứ chắc như đinh đóng cột rằng Tolstoy và Mac Levy mặc nhiên loại trừ nhau. Rồi thì, từ Marc Levy và Tolstoy, người đọc đó sẽ tiến lên bước nữa, Dan Brown (ví dụ vậy) và Kafka; sao lại không? Những người đọc có “gu mặn” hoàn toàn có thể hình thành bằng cách đó.
Nhưng bên cạnh đó ta lại nên bàn về khía cạnh vĩ mô. Trong một quốc gia có nền văn hoá phát triển cao, mọi thể loại văn chương đều phát triển. Văn chương đại chúng vô cùng mạnh mẽ, nhưng bên cạnh đó, văn chương “nghiêm túc”, “cao cấp” cũng phát triển, có chỗ đứng vững vàng, với lượng người đọc ít song ổn định. Đáng tiếc là, ở Việt Nam, bức tranh đang quá thiên lệch. Trong khi văn chương đại chúng khá thành công - một số đầu sách được PR hoành tráng, bán được số lượng “khủng” - thì văn chương “nghiêm chỉnh” phải vô cùng chật vật tìm cách tồn tại. Một tác phẩm của nhà văn Việt “chưa mấy tên tuổi”, lại bị người thẩm định đánh giá là “kén người đọc”, thì hầu như “không có cửa” đến với người đọc - trừ phi tác giả tự in lấy.
Đó là một trong những lý do khiến chúng ta cần có những nhóm đọc sách.
Bản thân anh cũng đang là người đứng ra tổ chức những buổi trò chuyện văn chương. Tôi muốn hỏi anh kỳ vọng điều gì? Là tập hợp một nhóm người (có thể nói là không quá đông đảo) nhưng người đọc giống mình, hay muốn “khải thị” cho những “kẻ ngoại đạo”, khởi sự nơi họ niềm ham mê đọc sách, yêu thích văn chương?
Câu hỏi hay! Tôi không kỳ vọng ở những thứ cao sâu như “khải thị” đâu. Tôi biết, những người đến dự các buổi này gần như thuộc về “thiểu số”, có khi chỉ dưới mười người, nhưng đó không phải vấn đề. Điều quan trọng là, những ai đã đến đều mang một cảm giác “đau đáu truy tìm thẩm mỹ”, những người cảm thấy có một động lực nào đó bên trong róng riết bắt họ phải hướng đến tinh thần, hướng đến cái đẹp, không thì họ không chịu nổi. Thế nhưng, có những lúc tôi cũng nhận ra không phải ai đến các buổi chuyện trò văn chương của mình cũng đều trong trạng thái đó. Có người cũng có nhu cầu ấy nhưng ít cấp thiết hơn. Có người chỉ vì tò mò, hoặc đến “cho vui” vì bạn rủ đi, và có người đơn thuần để làm nhiệm vụ, nhà báo chẳng hạn.
Vậy nên mục đích của tôi đơn giản là “chiêu dụ”, là “lôi kéo” được bao nhiêu hay bấy nhiêu những người đã có một chút chú ý đến; lôi kéo họ cùng tôi dấn sâu hơn vào địa hạt văn chương.

Above Dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng. Ảnh: Kỳ Anh Trần
Nhưng bản chất của việc đọc dường như lại là cô đơn. Vậy những nhóm đọc sách có đang lấn chiếm thánh địa cô đơn ấy của việc đọc sách chăng?
Bạn nói đúng. Bản chất của việc đọc là cô đơn, cũng như việc viết. Ta viết tốt nhất khi ta ngồi một mình. Tác phẩm để đời cần ra đời từ sự cô đơn của tác giả. Việc đọc cũng thế. Đọc nên là hành động cá nhân. Chỉ khi đọc một mình, ta mới có thể thực sự đào sâu vào cảm nghĩ, suy tư sâu kín nhất của cá nhân ta.
Có vài nhóm đọc sách đi theo mô thức đọc tới đâu thì ngồi lại bàn luận cùng nhau tới đó. Hình thức như thế có cái hay của nó, dĩ nhiên. Có điều, theo tôi, đọc theo cách đó phần lớn là mổ xẻ con chữ, dùng lý trí để đọc; trong khi, những cảm nhận sâu sắc nhất bằng tâm hồn, bằng trực giác của riêng từng người thì khó lòng đạt được bằng cách đó.
Nhưng trạng thái cô đơn này chỉ mới là vế đầu, là chặng đầu của hành trình. Tôi muốn nói đến hình tam giác Tác Giả - Tác Phẩm – Độc Giả. Tác giả hoàn thành tác phẩm; tác phẩm đến với người tiếp nhận; người tiếp nhận đọc tác phẩm; khi hành động đọc này hoàn thành là bắt đầu có sự giao thoa giữa ba đỉnh tam giác; sự giao thoa này có thể tạo nên những hiệu ứng đôi khi vượt ngoài dự tính của tác giả. Ấy là khi người đọc nhìn ra trong tác phẩm những khía cạnh, những vấn đề mà bản thân tác giả không hề dự tính, không hề biết. Cũng từ những khám phá cá nhân đó mà người đọc sẽ mong muốn tìm “đồng vọng”, tìm những bạn đồng hành sẵn sàng chia sẻ và làm lan tỏa những khám phá nhỏ ấy. Vậy, bạn thấy đấy, đọc nên là một hành động cô đơn, nhưng sau đó thì nhu cầu đồng thanh tương khí tự nó xuất hiện.
Ban đầu tôi có nói rằng buổi phỏng vấn hôm nay sẽ chỉ tập trung vào khía cạnh độc giả nơi anh, nhưng có lẽ chúng ta cũng nên nhắc một chút về vai trò dịch giả; cũng là một phần lớn tối quan trọng nơi anh. Vậy khi dịch một tác phẩm, niềm vui thưởng thức văn chương theo cảm tính có bị lung lay, lu mờ đi chăng?
Phần lớn dịch phẩm tôi đã hoàn thành, tôi đọc từ lâu trước khi dịch, như “Từ điển Khazar”, “2666”, “Bảy kẻ khùng điên”… Nhưng cũng có những tác phẩm tôi đọc đến là đâu dịch đến đó, như “Biên niên ký Chim vặn dây cót” của Haruki Murakami. Trong trường hợp ấy, dịch quả thực là viết lại tác phẩm. Mình không được hưởng niềm hạnh phúc của người đọc thuần túy, nhưng bù lại, mình được “sướng lây” cái hứng khởi lớn lao của người viết.
Một người đọc nên nhìn cái tổng thể, nên thấy cả khu rừng, thay vì chỉ thấy vài cái cây. Đó mới là một người đọc cừ khôi
Bản thân anh cũng là một người viết văn, viết văn chuyên tâm và đọc chuyên tâm đều là những việc cần nhiều thời gian và công sức, mà thời gian của mỗi người chúng ta đều có hạn. Thử tưởng tượng một viễn cảnh buộc ảnh chỉ được chọn một trong hai thì anh sẽ chọn việc viết hay đọc? Câu hỏi này tôi rất muốn hỏi anh sau khi đọc xong Nếu Một Đêm Đông Có Người Lữ Khách của Italo Calvino, cũng là một tiểu thuyết do chính anh chuyển ngữ.
Câu hỏi rất hay! Bạn khiến tôi thở phào vì mình chưa bao giờ bị lâm vào hoàn cảnh phải chọn đó. Với tôi thì viết và đọc như hai mặt của chiếc lá, không thể tách rời. Tôi đam mê đọc và tôi luôn thấy mình phải viết, bởi năng lượng vẫn đang còn ở bên trong tôi và những câu chuyện chưa viết đang còn “ủ” bên trong mình cứ ráo riết đòi mình kể nó ra, sinh nó ra, nên tôi sẽ luôn cố gắng để chu toàn cả hai mặt ấy. Còn nếu bắt tôi phải lựa chọn thì tôi không chọn. Tôi thà bỏ hết chứ không thể bỏ này lấy kia.
Nếu không đọc, không viết, liệu anh có biết mình sẽ làm gì khi ấy?
Tôi có sẵn câu trả lời. Tôi sẽ mở một trạm cứu hộ động vật. Không chỉ mèo chó mà tất cả những con vật nào cần được cứu giúp, chăm nom: heo, dê, gà, v.v.
Quay lại một chút với việc viết. Là một người đọc nhiều, anh có bao giờ thấy choáng ngợp trước những tác phẩm đỉnh cao của nhân loại đến độ anh thấy muốn “bẻ bút” không muốn làm nhà văn nữa chăng?
“Ngợp”, “sợ”, “nản lòng” trước những người khổng lồ trong văn chương thế giới: đó là một cảm giác khá quen thuộc đối với người viết, và là tâm lý tự nhiên thôi.
Nhưng quan trọng là cái nhân “nhà văn” trong bạn mạnh đến đâu. Nếu nó đủ mạnh, nó sẵn sàng chấp nhận thử thách. Nó sẵn sàng dấn thân vào con đường sáng tác, bất chấp trước mặt là bóng dáng vĩ đại của Goethe, Dostoevsky, Tolstoy, Kafka và nhiều người khổng lồ khác. Tâm thế của nó là; tôi sẽ không chạm được đỉnh cao của các vị, nhưng tôi sẽ dốc hết sức để chạm đỉnh cao của cá nhân tôi. Ta có thể so với thể thao. Một vận động viên nhảy cao của Việt Nam, nếu như bất cứ lúc nào anh ta cũng chỉ nghĩ đến kỷ lục thế giới, cũng tự hỏi đến bao giờ bản thân ta mới phá được kỷ lục thế giới, thì thử hỏi anh ta còn được chút động lực nào để cố gắng? Thay vào đó, hãy nghĩ đến chuyện phá kỷ lục Việt Nam trước đã, sau đó là kỷ lục Đông Nam Á, kỷ lục châu Á. Văn chương cũng giống như thế. Hãy chia quãng đường từ chân núi lên đỉnh núi thành vài chặng, và dốc toàn lực toàn tâm để chinh phục từng chặng một, như thể mỗi chặng đều là chặng cuối, chặng duy nhất.
Một trong những lời khuyên chí lý dành cho người leo núi, dành cho bất cứ ai dấn vào một con đường khó: Khi leo núi, đừng nghểnh cổ nhìn mãi đỉnh núi, mà hãy nhìn từng tảng đá dưới chân. Bước cuối nương tựa trên bước đầu. Đồng thời, tuy mắt ta không nhìn đỉnh núi, nhưng ta vẫn luôn giữ đỉnh núi trong tim mình. Ta cứ nhìn từng bước dưới chân và giữ đích đến trong tim. Bước đầu nương tựa trên bước cuối.
Câu cuối cùng tôi muốn hỏi anh rằng. Vậy theo anh, ta có định nghĩa được một “người đọc chuyên nghiệp” không?
Câu hỏi này thú vị nhưng khó trả lời.
Ta khó có thể nói “đọc chuyên nghiệp” nhỉ? Bởi theo như chúng ta đang hiểu thì đọc không phải là việc ta làm để được trả tiền. Chắc là tôi sẽ gọi là “người đọc cừ khôi”.
Một người đọc cừ khôi không hẳn là đọc nhiều sách, mà là người đọc sâu. Không chỉ đọc một hai tác phẩm của một nhà văn, mà đọc tất cả tác phẩm của nhà văn đó, và đồng thời đọc những người phê bình nhà văn đó, đọc những người cùng thời, cùng phong cách, trái phong cách… với nhà văn đó. Nói gọn là: đọc có hệ thống. Đọc sâu vào chi tiết, và đồng thời luôn nắm được tổng thể. Cũng như người leo núi nói trên: nhìn kỹ từng tảng đá dưới chân và đồng thời luôn nắm chắc tổng thể ngọn núi, bao gồm đỉnh núi.
Nhân nói về nhà phê bình: theo tôi, người đọc cừ khôi thì không nên đồng thời là nhà phê bình. Người đọc cừ khôi là người đọc và cảm thụ một cách thuần khiết, thay vì đọc với hàng lô quan điểm và lý thuyết có sẵn trong đầu và nhìn/bình mọi thứ thông qua những quan điểm và lý thuyết đó, cho dù đó là hậu thuộc địa, nữ quyền, ký hiệu học, giải cấu trúc… Nhìn qua những lăng kính đó không phải là sai, nhưng nếu anh lạm dụng nó, bám chặt vào duy chỉ một cách nhìn đó, thì vô hình trung ta đang Khép văn chương lại thay vì Mở văn chương ra. Mà văn chương chỉ là văn chương khi nó linh hoạt, rộng mở.
Người đọc nên vừa thấy chi tiết vừa thấy tổng thể. Nên thấy cây, song đồng thời nên thấy cả khu rừng. Có khả năng nhìn khu rừng, nhìn từng cây bằng nhiều phương thức khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, mà không tự giới hạn mình ở bất cứ một phương thức/góc độ nào trong số đó, và luôn có sự cởi mở, hồn hậu của đứa trẻ bên cạnh sự sắc sảo, thông tuệ của bậc “đại trí”, như là hai mặt của cùng một chiếc lá. Đó là người đọc cừ khôi.




