Kể từ cuối thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, bóng dáng của Nghệ thuật Vị niệm xuất hiện gần như trong mọi lĩnh vực. Kể từ sau khi chủ nghĩa hiện đại kết thúc, nghệ thuật không như là đối tượng, mà như là ý niệm
Nghệ thuật hiện đại xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 và kéo dài đến cuối thế kỷ 20, tiên phong trong việc xét lại những gì được xem là nghệ thuật theo cách hiểu truyền thống. Nhờ cách mạng công nghiệp và tiến bộ công nghệ, chủ nghĩa hiện đại bắt đầu khai thác được những công cụ và cách thức mới để diễn giải nghệ thuật. Dưới sự ảnh hưởng của phân tâm học trong thời buổi đó, người nghệ sĩ bắt đầu chuyển chủ đề từ đối tượng tự nhiên bên ngoài sang những suy ngẫm, sự liên tưởng trong tiềm thức và những ý niệm hoặc ham muốn mang đậm tính cá nhân. Chẳng hạn, những nghệ sĩ Ấn tượng cuối thế kỷ 19 là những người đầu tiên phá vỡ truyền thống của hội họa kinh viện bằng những kỹ thuật và phong cách hội họa mới như tập trung vào hiệu ứng thị giác của màu sắc trong sự tương tác với ánh sáng và các hiện tượng tự nhiên thay vì dựa theo các nguyên tắc bố cục, màu sắc trong các xưởng vẽ kinh viện.

Above Tác phẩm “Một và Ba Ghế” (One and Three Chairs) – Joseph Kosuth (1965) (Ảnh: 2024 Joseph Kosuth / Artists Rights Society (ARS), New York. Do nghệ sĩ và Sean Kelly Gallery, New York cung cấp)
Sau Thế chiến thứ hai, sự khốn cùng của chiến tranh đã khiến con người bắt đầu xét lại nghệ thuật truyền thống và thách thức mô hình tư duy trước đó. Trước những thay đổi của thời cuộc, chủ nghĩa hiện đại đã đẩy đến cực hạn những giá trị theo lẽ thường, khai thác những chủ đề từng bị cho là cấm kỵ nhằm đi sâu vào câu hỏi bản chất của nghệ thuật là gì. Chủ thể của nghệ thuật giờ đây không còn đơn thuần là tranh vẽ hay tự nhiên mà là trải nghiệm, ý niệm và/hoặc giác quan của người thưởng thức. Đó cũng là lúc trường phái siêu thực, trường phái biểu hiện trừu tượng ra đời như câu trả lời cho sự phi lý của thực tại (1).
Tổng hòa những vận động xã hội này đã hình thành nên những đặc trưng của nghệ thuật hiện đại, bao gồm: trừu tượng, thể nghiệm, nội suy, phân tích, quy giản, cực hạn hóa chủ thể nghệ thuật thành những thành tố cơ bản như màu sắc, hình khối, đường nét, hoặc thêm vào yếu tố thời gian không gian, tri giác,... Điều này đã mở ra hàng loạt trào lưu nghệ thuật như chủ nghĩa tối giản, chủ nghĩa Dada, chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng, phái dã thú, chủ nghĩa tân hư vô,...(2)
Trong sự phân nhánh của những loại hình nghệ thuật hậu hiện đại, chúng tôi mời bạn đọc đến với Nghệ thuật Vị niệm (Conceptual Art), bởi dù Nghệ thuật Vị niệm được cho là chỉ sôi nổi trong giai đoạn thập niên 70-80, nhưng nhiều nghệ sĩ vẫn còn thực hành theo triết lý vị niệm cho đến ngày nay. Bên cạnh đó, làn sóng vị niệm cũng đang dần thành hình trong dòng chảy nghệ thuật Việt Nam, dưới nhiều hình hài nghệ thuật.
Sự ra đời của Nghệ thuật Vị niệm

Above Tác phẩm “Vòi phun” (Fountain) – Marcel Duchamp (1917) (Ảnh: Succession Marcel Duchamp / ADAGP, Paris and DACS, London 2024)
Marcel Duchamp vào năm 1917 đã đặt một chiếc bồn cầu – thứ mà ông gọi là vật có sẵn (ready-made object) – trong một triển lãm và xem nó như tác phẩm trưng bày mang tính ý niệm, đặt tên là Fountain. Đây là cột mốc đánh dấu sự manh mún của hình thái nghệ thuật phi-đối tượng mới. Lấy cảm hứng từ triết lý của Duchamps, nhiều loại hình nghệ thuật lân cận như sắp đặt, Dada, tân chủ nghĩa tân hư vô, Fluxus,... được mở hướng đi mới.
Tuy vậy, vào thời của Duchamp, các nghệ sĩ theo đuổi ý niệm đơn thuần chỉ đang đặt ra câu hỏi về bản chất nghệ thuật và phê phán chủ nghĩa định danh và hệ thống quy ước cũ như rào cản tiếp cận bản chất của nghệ thuật. Phải cho đến khi Sol LeWitt xuất bản cuốn Paragraphs on Conceptual Art năm 1967, khái niệm Nghệ thuật Vị niệm mới được định nghĩa đầy đủ. Trong tác phẩm của mình, ông viết: “Trong Nghệ thuật Vị niệm, ý tưởng hoặc ý niệm là khía cạnh quan trọng nhất của tác phẩm. Khi người nghệ sĩ sử dụng ý niệm trong nghệ thuật, điều đó có nghĩa là mọi kế hoạch và quyết định đều được vạch ra từ trước và việc thực hiện chỉ là công việc chiếu lệ. Ý tưởng trở thành cỗ máy tạo ra nghệ thuật” (3).

Above Bản chép tay của Sol LeWitt trong tác phẩm “Sentences on Conceptual Art” (1969) (Tạm dịch: Đôi dòng về nghệ thuật ý niệm) (Ảnh: Trích từ tác phẩm Art-Language, Tập 1, Số 1, năm 1969)
Joseph Kosuth đi xa hơn trong việc đưa ra mô hình phân tích dựa trên khái niệm rằng nghệ thuật phải liên tục đặt câu hỏi về mục đích của chính nó. Trong bài luận Art after Philosophy (1969), Kosuth lập luận rằng cần phải từ bỏ phương tiện truyền thống khi phê bình Nghệ thuật Vị niệm. Ông đặt câu hỏi rằng nghệ thuật liệu có nhất thiết cần phải được thể hiện dưới dạng trực quan – hay liệu nó có cần được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật lý nào hay không.
Phải đến thập niên 70, trường phái vị niệm mới xác lập được mục tiêu của mình là phủ định nghệ thuật như là vật thể và triệt tiêu chiều kích vật lý. Khi phủ định nghệ thuật như là vật thể (Art as Object), nghệ sĩ có thể đưa vào trong tác phẩm của mình chiều kích thời gian, sân khấu, ký hiệu học, hành động hoặc ngôn ngữ để thay thế cho các không gian và yếu tố thị giác. Bằng cách cố gắng giảm thiểu tính chất vật lý của tác phẩm, các nghệ sĩ sẽ loại bỏ được các tiêu chuẩn mỹ học vốn đã cũ rích để thấy được cái bản chất của sự vật, hoặc những chiều kích khác mà cách tiếp cận truyền thống không thể khai thác.

Above Tác phẩm “The Physical Impossibility of Death in the Mind” (Tạm dịch: Sự bất khả về mặt vật lý của cái chết trong tâm trí) – Damien Hirst (1991) (Ảnh: Prudence Cuming Associates)
Như vậy, đối tượng thực hành của Nghệ thuật Vị niệm là tiến trình tư duy và ý niệm bên trong tác phẩm, ngụy trang dưới bất kỳ hình thức vật lý hoặc loại hình nghệ thuật nào mà tác giả muốn. Để chuyển tải được ý niệm, nên tác phẩm có thể diễn ra ở bất cứ không gian nào tác giả muốn, kết hợp với loại hình nghệ thuật nào nào tác giả cho là phù hợp. Vậy nên, Nghệ thuật Vị niệm thường có sự hòa trộn của nhiều loại hình khác như sắp đặt, trình diễn, ngôn ngữ.
Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như The Physical Impossibility of Death in the Mind of Someone Living, 1991 của Damien Hirst – tác phẩm từng là tâm bão tranh cãi khi Damien Hirst khai phá chủ đề nỗi sợ chết. Hirst nói rằng: “Nỗi sợ cá mập là một thứ khó hiểu, nhưng nỗi sợ chết của con người thì dễ hiểu hơn”. Bản chất triển lãm của Hirst là về nỗi sợ chết vô lý ra sao, nhưng bản thân cái chết ý nghĩa đối với đời sống đến thế nào. Tất cả những thứ còn lại, từ con cá mập đến bể kính và phòng trưng bày siêu rộng của Saatchi Gallery có giá thuê lên đến 50.000 bảng, cũng chỉ để làm nền cho ý tưởng.

Above nghe thuat nhu la y niem - 5Tác phẩm bảng cách ngôn bằng đèn neon “Protect Me From What I Want” (Tạm dịch: Cứu lấy tôi khỏi điều tôi muốn) –, Jenny Holzer (1985) (Ảnh: John Marchael)
Ít phù phiếm như Hirst thì có Kurt Schwitters với tác phẩm chắp vá (collage) phản-thương-mại Merz; Jenny Holzer với những bảng đèn LED để nói về tình trạng con người. Sự lược bỏ các yếu tố vật lý của đối tượng nhằm khơi gợi suy tư trí tuệ của người xem về bản chất của đối tượng của Duchamp được xem như khởi đầu của Nghệ thuật Vị niệm.
Xem thêm: Khi công nghệ kết hợp với nghệ thuật để dẫn lối bình yên
Nghệ thuật Vị niệm tại Việt Nam
Không rõ làn sóng vị niệm du nhập vào Việt Nam khi nào, nhưng trong những năm gần đây, nhiều hoạt động thể nghiệm của loại hình này đã len lỏi vào trong những cộng đồng nghệ sĩ thể nghiệm. May mắn thay, làn sóng này được các gallery, các tổ chức nghệ thuật độc lập như Nguyễn Art Foundation, MoT+++, và Sàn Art đón nhận nhiệt liệt. Bằng chứng là chương trình lưu trú nghệ thuật A. Farm, dưới sự bảo trợ của ba đơn vị này, ra đời để phục vụ sứ mệnh ươm mầm tài năng cho dòng Nghệ thuật Vị niệm này. Trong số đó, Trương Công Tùng là một hạt mầm đáng để nhắc đến.

Above Tác phẩm “Traces of Infinity” (Tạm dịch: Những dấu tích của vô cùng) của Trương Công Tùng trong triển lãm “Giữa Phân Mảnh và Toàn Thể” (Ảnh: Galerie Quynh)
Trong triển lãm mang tên Giữa Phân Mảnh và Toàn Thể (Between Fragmentation and Wholeness), Tùng đã cho sáp nhập hai thực tại là không gian triển lãm và miền đất Cao nguyên trong tim anh như một cách thức để phản đối ý niệm về một sự thật tuyệt đối. Bởi lẽ theo anh, khoảng trống giữa thực và hư cấu là vùng đất để người nghệ sĩ khai phá và tìm hiểu.
Nghệ thuật Vị niệm ở Việt Nam tuy còn mới mẻ, nhưng lại sớm được nhiều nghệ sĩ đón nhận và áp dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của họ như sắp đặt (Lost & Found – The LabSaigon x De là Sól), hay sân khấu (Họ gọi món và lăn dài trên cát, sóng biển và đám cỏ lăn – nhóm kịch TheaFter), ngôn ngữ (Tạm biệt nghệ thuật - Họa sĩ Quách Bắc),…
Tham khảo:
(1) From Modern to Contemporary: Art’s Evolution của tác giả Lee Down (đăng trên artsartistsartwork.com)
(2) Modern Art - Modern art terms and concepts (đăng trên The Art Story)
(3) Paragraphs on conceptual art của tác giả Sol LeWitt (đăng trên Artforum)
What’s the Difference Between Modern and Contemporary Art? (đăng trên Britannica)




