Cover Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng miệt mài với công việc nghiên cứu bằng niềm yêu thích mãnh liệt

Cùng lắng nghe góc nhìn về Tết Nam Bộ trong mắt người được ví như “người đi tìm kho vàng cho thành phố”

“Người ta thường gọi tôi là ‘hòa thượng thích đủ thứ’, vì điều gì tôi cũng thích. Nói thiêng liêng thì mỗi người có một cái nghiệp, nó cuốn mình vào vòng xoáy và không thể nào cưỡng lại được”. Đó là lời chia sẻ chân thành của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng khi người viết hỏi ông về lời khuyên trong việc nghiên cứu và học tập.

Dẫu đã ở tuổi “cổ lai hy”, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng vẫn miệt mài với công việc nghiên cứu bằng niềm yêu thích mãnh liệt. Sinh năm 1952 tại Quảng Ngãi, ông từng là Nghiên cứu viên của Phân viện Văn hóa Nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã đóng góp nhiều công trình quan trọng về phong tục tập quán, văn hóa dân gian Nam Bộ như Hát sắc bùa Phú Lễ, Ông Địa – tín ngưỡng và nghi lễ, Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, Khảo luận về Tết,…

Đọc thêm: Tết-Ta: 9 địa điểm văn hóa phải check-in dịp Tết cho các tín đồ Instagram

Nhân dịp Tết 2025, Tatler Vietnam đã tìm gặp nhà nghiên cứu để lắng nghe góc nhìn về một Tết Nam Bộ trong mắt người được ví như “người đi tìm kho vàng cho thành phố”. Song, câu trả lời còn hơn những gì chúng tôi nhận được về “Tết”. “Khi nghiên cứu về văn hóa, tôi luôn tập trung trả lời câu hỏi ‘how’ (như thế nào) thay vì ‘what’ (là gì). Đối với Tết, tôi viết Khảo luận về Tết với mục tiêu tìm về nguồn cội. Và những đóng góp của tôi trong việc nghiên cứu về Tết này vốn không phải là một sự miêu tả – “khảo luận” tức là tập trung vào một chuyên đề duy nhất”, ông chia sẻ.

Tatler Asia
Above Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng là một người cần mẩn và nghiêm túc với công việc nghiên cứu văn hóa. Ảnh: Đình Phú

Khảo luận về Tết là một công trình được nhà nghiên cứu trình bày sau khi chứng kiến nhiều cuộc tranh luận về ngày Tết nhưng thiếu cơ sở về văn hóa, nhằm đem lại hiểu biết có khoa học hơn về ngày Tết cũng như văn hóa Việt Nam.

Công trình hòa âm từ quá khứ

Các phong tục và lễ nghi ngày Tết không chỉ gói gọn trong khái niệm đón chào năm mới mà còn phản ánh những tầng sâu văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người Việt.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, trong Thái Bình Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử, Tết cổ truyền của người Việt xưa được tổ chức vào tháng 8 Âm lịch, tức sau mùa vụ, khi đất trời giao hòa và con người thu hoạch thành quả lao động. Minh chứng rõ nét là hình ảnh bông lau trổ bông, hoạt động giã gạo hay đua ghe được khắc trên trống đồng. Đây cũng là lý do trống đồng được xem là đồ hình khắc họa Tết nguyên thủy nhất của người Việt. Sau này, khi chịu ảnh hưởng của lịch pháp Trung Hoa, ngày Tết được chuyển từ lễ Thượng Điền (tháng 8) sang lễ Xuống Đồng (tháng Giêng). “Tết bây giờ là ăn vào lúc khởi công còn ngày xưa, ta có thành tựu, tức sau mùa vụ mới ăn Tết”, ông lý giải.

Dẫu vậy, tàn dư của Tết xưa vẫn được bảo lưu trong văn hóa của cộng đồng người Khmer, điển hình là lễ Ok om-bok (đút cốm dẹp) với những nghi thức quen thuộc như ăn cốm dẹp và đua ghe ngo. Đây được xem là ánh hồi quang của lễ Tết xưa, kết nối hiện tại với quá khứ.

Tatler Asia
Above Một góc tại tư gia của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng. Ảnh: Đình Phú

Theo thời gian, Tết từ một lễ hội nông nghiệp với chức năng tế tự là trọng tâm sang một hình thái tổng hợp với ba chức năng chính: cúng tế, giao đãi và hưởng thụ. Chức năng cúng tế mang tính ngưỡng vọng, xác lập một công ước của người đương thời với những giá trị đã tồn tại từ trước, tức là biết ơn tổ tiên. Chức năng giao đãi lại nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội, khi Tết là dịp để củng cố các mối quan hệ trong bối cảnh cuộc sống hiện đại thường gây ra sự xa cách hoặc xung đột. Cuối cùng, chức năng hưởng thụ là sự kết tinh của thành quả lao động văn hóa và vật chất.

Trong Khảo luận về Tết, nhà nghiên cứu còn đi sâu vào ý nghĩa của bánh chưng và bánh tét ngày Tết. Ông cho biết: “Theo Nhân bản khởi thế luận (Luận về nguồn gốc loài người và mọi mặt trên thế giới), những thực phẩm chính của các nền văn minh đều được ‘thánh thể hóa’. Ví dụ, rượu vang là máu của Chúa trong Thiên Chúa giáo, còn ở Việt Nam, lúa được coi là ‘hạt ngọc của trời’. Vì vậy, những lễ nghi ngày Tết không thể tách rời khỏi nếp, từ xôi, bánh dày, bánh chưng, bánh tét, cho đến bánh in. Hơn nữa, Tết miền Nam còn gắn liền với bánh phồng (loại bánh được giã từ gạo nếp) để gửi gắm ước vọng cầu mong một năm mới thịnh vượng và đủ đầy”.

Tết từ một lễ hội nông nghiệp với chức năng tế tự là trọng tâm sang một hình thái tổng hợp với ba chức năng chính: cúng tế, giao đãi và hưởng thụ.

- Tatler Vietnam -

Cũng từ đây, người ta quan niệm, Tết miền Bắc có bánh chưng, miền Nam có bánh Tét. Song, điều này không hợp lý vì dù có khác biệt về tên gọi và cách thể hiện, bánh chưng và bánh tét thực chất là một, cùng chung một biểu tượng về tín ngưỡng phồn thực và triết lý trời tròn đất vuông. “Tín niệm này được du nhập từ Trung Hoa và phổ biến qua hình thức đắp đàn tế trời đất, chính thức bắt đầu từ triều đại nhà Lý”, ông bổ sung. Cũng theo nhà nghiên cứu, bánh tét có khả năng xuất hiện trước bánh chưng vì hình dạng mang biểu tượng linga (sinh thực khí nam) – một phần của tín ngưỡng phồn thực vốn thống trị trong suốt thời kỳ nông nghiệp sơ khai. Trong khi đó, bánh chưng với hình vuông đại diện cho đất, thể hiện sự hội nhập văn hóa sau này. Ngoài ra, trong Phật giáo, bánh ú với hình dạng như tháp/ nóc chùa cũng là một sự cách điệu thể hiện tín niệm khác nhau về bánh tét.

Tatler Asia
Above Một góc tại tư gia của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng. Ảnh: Đình Phú
Tatler Asia
Above Qua câu chuyện ngày Tết và văn hóa, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cố gắng khơi gợi ở người trẻ góc nhìn nghiêm túc hơn khi bàn luận về văn hóa. Ảnh: Đình Phú

Một trong những nghi thức đặc trưng của Tết là tục cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp. Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng: “Chúng ta thường gọi là ‘cúng ông Táo’, nhưng thực chất nhân vật quan trọng nhất phải là bà Táo, như truyền thuyết có câu: “Tưởng là bà Táo thật thà/ Ai dè bà Táo một bà hai ông”. Ông giải thích thêm rằng truyền thuyết về bà Táo với hình ảnh “một bà hai ông”, nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ cũng như người phụ trách chuyện bếp lửa mới là người giữ vai trò quan trọng trong ngôi nhà. Hơn nữa, theo ông, ông Táo trong văn hóa Việt Nam không chỉ có ba mà có đến bốn vị, trong đó một vị giữ vai trò chính, ba vị còn lại hỗ trợ. Từ những tổng quan về nguồn gốc của Tết, bánh chưng – bánh tét, tục cúng ông Táo, ta thấy, Tết không chỉ là ngày lễ hội khởi đầu năm mới mà còn là bức tranh đa chiều về văn hóa và tín ngưỡng. Những nghi thức ấy chính là bản hòa âm kết nối quá khứ với hiện tại để tạo nên nét đặc trưng độc đáo cho bản sắc văn hóa Việt.

Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là cố định hóa truyền thống

Qua câu chuyện ngày Tết và văn hóa, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cố gắng khơi gợi ở người trẻ góc nhìn nghiêm túc hơn khi bàn luận về văn hóa. Người viết được dịp, lại hỏi thêm: “Vậy chúng ta nên tiếp cận văn hóa như thế nào, để việc nghiên cứu có giá trị và chính xác trong việc khai thác, thưa ông?”

Đọc thêm: Tết-Ta: Cách Gen Z biến Tết thành “phòng triển lãm” nghệ thuật truyền thống

Tatler Asia
Above Nhà nghiên cứu chia sẻ về tập tục ngày Tết. Ảnh: Đình Phú

Nhà nghiên cứu cho biết: “Bất cứ xã hội nào khi phát triển đều hình thành một nhóm người bảo thủ văn hóa – những cộng đồng hoài niệm quá khứ (nostalgic). Tuy nhiên, văn hóa luôn vận động và phát triển. Quá trình ấy phụ thuộc vào tọa độ địa lý và lịch sử, tức không gian sinh tồn của cộng đồng. Cộng đồng ấy cần thực hiện những việc thiết yếu như tổng hợp giữa cái cũ và cái mới, tích hợp giữa nội tại và ngoại lai để định hình cơ cấu văn hóa đương đại. Văn hóa là một thực thể động, không cố định như ADN và có khả năng học tập, tiếp biến. Đó chính là điểm đặc thù của văn hóa”.

Cần tìm được sự cân bằng giữa giá trị truyền thống, giá trị đương đại và những giá trị tiến bộ của nhân loại.

- Tatler Vietnam -

Ông nhấn mạnh thêm: “Một đặc điểm khác của văn hóa là tính phi định vị. Chúng ta có thể lựa chọn giữa việc bảo lưu giá trị văn hóa dân tộc hoặc hòa nhập vào những giá trị toàn cầu, và tự thân mình là một phần của cộng đồng văn hóa đó. Song cần lưu ý rằng, đằng sau cánh cửa truyền thống, không tồn tại khái niệm phát triển; nó chỉ xoay quanh việc trở về bản sắc. Vì vậy, cần tìm được sự cân bằng giữa giá trị truyền thống, giá trị đương đại và những giá trị tiến bộ của nhân loại”.

Ông cũng khẳng định, giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là cố định hóa truyền thống, mà là “giữ cho văn hóa không bị đứt gãy”. Đó là lý do vì sao trước khi nhìn nhận bất kỳ sự thay đổi, chúng ta cần cố gắng nhận diện và hiểu văn hóa như-nó-là thay vì áp đặt những kỳ vọng chủ quan.

arrow left arrow left
arrow right arrow right
Photo 1 of 3
Photo 2 of 3
Photo 3 of 3

“Hệ quả của sự thay đổi ấy là có những phong tục còn được bảo lưu, có những phong tục đã mai một, và cũng có những phong tục được đổi mới. Về phong tục ngày Tết, có lẽ ai cũng biết và cảm nhận. Tôi chỉ muốn truy nguyên một chút về cội nguồn của những tập tục ấy,” ông chia sẻ.

ĐỌC THÊM:

Tết-Ta: Đối thoại mùa xuân giữa hai thế hệ vợ chồng họa sĩ

Tết-Ta: Bàn về tranh con Giáp ngày Xuân cùng họa sĩ Đặng Mậu Tựu

Tết-Ta: Khi hương trà Omakase thì thầm những câu chuyện văn hóa và triết lý sống