Đã 80 năm kể từ ngày triều Nguyễn cáo chung, “Nghê Thường Vũ Y“ chốn lầu son gác tía mới thực sự thức giấc trong một hình hài trọn vẹn, lộng lẫy kiêu sa một vũ phục cung đình tưởng chừng chỉ còn trong sử sách
Bộ trang phục là dự án của chàng trai trẻ Khẩu Cao Nhựt Phúc (sinh năm 2003, sinh viên khoa Thời trang, trường Đại học Văn Lang) thực hiện trong vòng 3 năm ròng rã. Tổng thể trang phục từ dáng dấp, kết cấu đến màu sắc, hoa văn, là đúc kết từ quá trình tham khảo hơn 20 đầu tài liệu, gần 800 tấm hình đen trắng khác nhau và 10 lần thử nghiệm thất bại.
Giữa trào lưu tái hiện trang phục Việt Nam xưa đang xoay quanh giới phong lưu quý tộc, Nhựt Phúc chọn cho mình một đề tài độc đáo và cực kỳ phức tạp. Dự án phối hợp từ kỹ nghệ chế tác mão, kim hoàn đến cắt may và thêu tay. Tất cả đều được Phúc tự thân thực hiện.

Quả thực “thiên đạo thù cần”, thành quả của chàng trai 22 tuổi là một bộ áo hát mà hiện nay có thể đánh giá là tiệm cận nhất với tư liệu lịch sử. Tác phẩm cho ta một cái nhìn mới mẻ, đầy ngưỡng mộ và tự hào về một loại phục sức diễn xướng đậm tính mỹ học đã từng tồn tại giữa chốn cung vàng điện ngọc Thừa Thiên Huế gần 100 năm trước.

Từ giai thoại cung trăng tới vũ khúc hoàng gia
Nghê Thường Vũ Y (霓裳羽衣) là kiểu thức trang phục ca múa hoàng gia được mặc bởi các vũ sinh nam dưới triều Nguyễn. Về tên gọi, căn cứ theo tập san “Bulletin des amis du vieux Hue” (B.A.V.H) số 3 năm 1934: “Cérémonial D’autrefois Pour Le Mariage Des Princesses D’annam” (Lễ cưới của các công chúa An Nam xưa), Nghê Thường Vũ Y xuất phát từ điển tích “Nghê Thường vũ y khúc” gắn liền với giai thoại Đường Minh Hoàng - Lý Long Cơ ngao du Nguyệt Điện về rồi chế ra cho những cung nữ múa hát.

Theo sách B.A.V.H ghi lại:
“Vào một đêm Trung thu vua Đường Minh Hoàng thấy trăng sáng, mơ ước được đặt chân lên cung trăng thăm thú. Đạo sĩ tên La Công Viễn có phép thần thông liền hoá dải lụa trắng thành chiếc cầu đưa nhà vua đến chơi Nguyệt Điện. Trong điện lưu ly rực rỡ ánh sáng lung linh, có những vị tiên mĩ miều, khoác trên mình trang phục muôn sắc, cùng áo lông vũ mềm mại đang uyển chuyển múa hát theo điệu nhạc như đưa hồn người vào cõi bồng lai. Cảnh tượng khiến lòng vua càng thêm say đắm.
Khi trở về, Đường Minh Hoàng đã sáng tác "Nghê thường vũ y khúc", cùng với những trang phục diễm lệ rồi huấn luyện các cung nữ trong triều. Đến đêm rằm tháng Tám, Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi dưới ánh trăng huyền ảo hòa cùng rượu nồng, say đắm ngắm nhìn những điệu múa "Nghê thường", như thể họ đang sống trong cung điện Quảng Hàn, nơi giao hòa giữa nhân gian và cõi thiên đường.”
Đọc thêm: Nhà thơ Trần Lê Sơn Ý: “Thơ như người thân và cuộc đời vang tiếng cười”
Nghê (霓) "cầu vồng"; «arc-en-ciel»
Thường (裳) "vạt áo"; «jupon»
Vũ (羽) "lông vũ" «plumes»
Y (衣) "áo"«habit» , được làm từ lông vũ của các loài chim nhiều màu sắc và thường được gọi là mã-tiên 禡仙.
(Nguyên văn trong B.A.V.H : faits de plumes d’oiseaux multicolores et connus sous la dénomination vulgaire de ma-tien)
Vì vậy nếu căn cứ theo tư liệu, thì kiểu vân kiên (tấm phủ vai) được gắn các dải tua tên gọi đúng chính là Mã tiên - là tên gọi mà những năm qua được gắn cho dạng áo lá gắn chân chỉ (dải tua rua) khoác ngoài mặc bởi các mạng phụ phu nhơn (và đương nhiên loại áo đó tên là Áo Lá Tua)

“Nghê thường vũ y khúc” từng rất phổ biến dưới thời Đường. Tuy nhiên sau nhiều biến loạn, khi Đường triều dần suy vong thì bài nhạc không còn giữ được sự hưng thịnh thuở nào. Dù vậy “Nghê Thường Vũ Y” vẫn được lưu truyền qua nhiều triều đại sau đó, như một điển cố gắn liền với thú thưởng nguyệt đàn ca nơi cung vua phủ chúa. Thông thường, những bài múa sử dụng “Nghê Thường Vũ Y “ sẽ được hiểu là vũ khúc được diễn xướng bởi các vị tiên trong Nguyệt điện.
Xuyên suốt sự tồn tại của mỗi vương triều, “Nghê Thường Vũ Y” sẽ đặc biệt mang dáng dấp đặc trưng của chính trang phục thuộc triều đại đó.

Dưới thời nhà Nguyễn, “Nghê Thường Vũ Y‘’ là loại vũ phục nội cung, được mặc bởi các vũ công nam khi biểu diễn các vũ khúc hoàng gia như: Lục cúng hoa đăng, Múa bài bông, Tam quốc tây du , Lục triệt hoa mã đăng,.... Ngoài ra còn được mặc bởi những đồng ấu (trẻ em) trong dàn nhạc, cầm quạt hầu tại các dịp linh đình, ý chỉ đó là những tiên đồng hiện điện trong các sự kiện quan trọng của hoàng gia.
Thông thường các vũ công nam sẽ đội mão có chóp hoa sen ánh vàng, người vận áo mã tiên (dạng vân kiên gắn các dải tua nhiều màu thêu hoa). Áo hường (tay áo có gắn mã đề tụ hay vỏ lừa cùng màu với quần - chính là phần tay áo lật ngược), quần lục, thân dưới mặc quần giáp 4 lá, 2 miếng phủ thêu hình hổ phù trước và sau, hai ống chân quấn xà cạp. Ngoài ra, dưới mỗi đầu tua thường gắn một “hạt” lục lạc bằng đồng, khiến mỗi bước đi đều réo rắc rền vang một khung trời.
Đọc thêm: Dịch giả, họa sỹ Trịnh Lữ: “Gia đình là ngôi trường đầu tiên để học hỏi những giá trị cốt lõi”
Đối với phần mã tiên, khi quốc khố dư dả thì những dải tua này được thêu thùa hoa dạng (thường là Tứ thời hoa như: mai, lan, cúc, mẫu đơn), viền kim tuyến bắt mắt tinh nhã. Về sau quy mô lớn hơn nhưng kinh tế không đủ đáp ứng, các thức gấm đã dệt sẵn hoa văn lại được tận dụng triệt để. Trong dự án này, Khẩu Cao Nhựt Phúc đã chọn bản thêu để truyền tải trọn vẹn tinh thần “trăm hoa đua nở” của vũ khúc cung đình.

Tùy theo từng vũ khúc thì tổ hợp trang phục sẽ khác nhau: “Lục cúng hoa đăng” các vũ sinh sẽ cầm thêm hai đèn hoa sen trên tay, “Tam quốc quốc tây du “ và “Múa bài bông” thì có phần khác biệt là các vũ sinh sẽ đeo thêm cặp đèn lồng giấy vẽ hoa trên vai, tay cầm quạt trắng.
Riêng “Lục triệt hoa mã đăng“ thường được múa vào lễ Hưng Quốc khánh niệm (ngày mồng 2 tháng 5 âm lịch) dưới thời vua Khải Định. Trang phục tương tự như “Múa bài bông” nhưng được cưỡi ngựa thật, về sau khi thấy nhiều khó khăn trong việc quản lí khi múa nên Thanh Bình Thự (tên của đoàn múa cung đình bấy giờ) đổi lại cho vũ sinh đội lốp ngựa giả.

Bộ áo này được Nhựt Phúc bắt đầu những đường thêu đầu tiên từ đầu năm 2021, có tham khảo qua các hiện vật còn được lưu giữ tại bảo tàng Quai Branly (Pháp). Tất cả đều được Phúc cân đối thời gian giữa lên trường, đi làm thêm, và chế tác tại nhà. Không chỉ đơn thuần là thêu, mà trang phục còn kết hợp các kỹ nghệ như bắt kim tuyến, bọc tơ (làm râu rồng), trang trí đắp vải,...
Bởi tính chất phức tạp của rập may xưa, các đường kim mũi chỉ gần như hoàn toàn được thực hiện bằng tay, rất ít can thiệp máy móc. Ngay cả chất liệu, Phúc cũng cố gắng tìm kiếm những thức vải phù hợp cho từng bộ phận của trang phục, đặc biệt hạn chế những loại có độ bóng cao, sao cho thành phẩm mang dáng vẻ xưa nhất có thể.
Tái hiện mão hoa sen
Mão hoa sen là kiểu mão diễn xướng của các vũ công hoàng gia sử dụng khi mặc Nghê Thường Vũ Y, được phát triển dựa trên cơ sở hình dáng các loại mão đội đầu dưới triều Nguyễn, với đầy đủ các bộ phận như thân mão, chóp hoa sen, bác sơn, ngạch sơn, kim giao, kim ba, thùy lưu, khăn phủ đầu.
Đây được coi là loại mão có hình dáng rất đặc biệt. Có những loại mão hay phục trang được chế ra để phục vụ một số nhu cầu sử dụng trong những thời điểm nhất định và rất ngắn hạn, vì vậy rất hiếm khi khảo được quy chế hay quy định cụ thể, và mão hoa sen cũng không ngoại lệ. Những tài liệu về loại mão này không còn nhiều, đa phần chỉ còn căn cứ vào hình tư liệu trắng đen.

Lần hiếm hoi màu sắc của mão được nhắc đến là trong “Bulletin des amis du vieux Hue” số 2 năm 1925, về sự kiện “Tứ tuần đại khánh của vua Khải Định” (Épisode Des Fêtes Du Quarantenaire De S. M. Khai-Dinh Journées Des, 1924) bởi tác giả H. Délétie.
“Sáu mươi bốn đứa trẻ, mỗi đứa mang trên vai hai chiếc đèn lồng giấy màu hồng (lanternes de papier rose), tiến lên theo hàng dọc, và những động tác của chúng vẽ nên trong sân im lặng một con rồng ánh sáng dài. chiếc mũ đỏ (bonnet rouge) của họ được đội lên một bông sen vàng (lotus doré) lấp lánh như một ngôi sao; từ những cổ áo rộng thêu hoa của chúng rủ xuống những dải băng ruy băng màu sắc tươi sáng, hòa quyện với màu vàng, xanh và đỏ của bộ quần áo lụa.”

Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề dẫn trong Việt Nam ca trù biên khảo (xuất bản năm 1962), trang 30-31, có đoạn :
“Tháng 9 năm 1924, lễ Tứ tuần đại khánh vua Khải Định, khắp hai bên đường thành phố Huế làm những khải hoàn môn kết lá xanh tươi, dán chữ thọ và chữ phúc bằng hoa rực rỡ. Ở trên Kỳ Đài và những cột cờ bên vệ đường đều treo cờ rồng vàng lẫn với cờ ngũ sắc, có đuôi nheo, cờ long phượng nhật nguyệt. Trong điện, bọn cô đầu Bắc Kỳ đứng trên chiếu hát, có khi múa và hát những bài hát chúc hô. Buổi tối, 64 trẻ em mặc quần áo lụa màu vàng và xanh đỏ, đầu đội mũ đỏ, vai mang đèn lồng, múa hoa đăng, kế đến ban Bát dật múa...”

Qua đó chúng ta có thể nhận thấy màu mão được ghi nhận ở thời điểm đó là màu đỏ, hoa sen vàng. Một thông tin kèm thêm là “đèn lồng giấy màu hồng đội trên vai“ chỉ rõ đây là điệu múa Bài Bông.
Mão được nghiên cứu trong hơn một năm và mất hai tháng để chế tác, phối hợp cốt mão là giấy bồi như lối xưa nhưng kết hợp tạo hình các mảnh trang trí chạm khắc bằng đất sét nghệ thuật rồi xử lý nung. Toàn bộ màu vàng kim trên mão đều là thếp vàng lá truyền thống. Bông nhung gắn lò xo sử dụng tơ tằm nhuộm tay được tạo tác từ một gia đình nghệ nhân tại Chợ Lớn.
Hồn cốt văn hóa Huế
Sau ngày triều Nguyễn cáo chung tháng 8 năm 1945, cung ngọc lầu son chẳng còn vua chúa để nghe múa hát. Giữa rối ren của những biến động lịch sử, những tà áo thêu hoa, những bộ mão trổ vàng cũng không thoát khỏi số phận chìm trong biển lửa thời cuộc. Khi đó chẳng thể kể đến ca múa để làm gì khi người dân vẫn còn đang lo từng cái ăn cái mặc. Dù vậy, đoàn múa hoàng cung, khi đó gọi là Ba Vũ, vẫn được duy trì.

Tất cả đều nhờ Đức Từ Cung, tức Đoan Huy hoàng thái hậu, thường xuyên ra tay giúp đỡ kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1954. Bởi lẽ Đức Từ vẫn đau đáu về những di sản quý giá đó, Ngài sợ một ngày nhã nhạc sẽ lụi tàn, nên bằng mọi tâm sức Đức Từ Cung vẫn tìm cách hỗ trợ và gìn giữ dù khi đó Ngài cũng sống trong bộn bề túng thiếu.
Nhờ vậy, đến tận năm 1975 đoàn vẫn đủ sức gắng gượng, nhưng quy mô và nghệ thuật ngày càng giảm. Sau khi thống nhất đất nước, đoàn Ba Vũ được đổi tên là Đoàn Múa Hát Truyền Thống và dần ổn định đến hiện nay.

Ngày 9/11/1980, Đức Từ Cung - Đoan Huy Hoàng thái hậu cưỡi phụng về trời. Cũng nhờ vào sự giúp đỡ không ngừng của Đức Từ và những nghệ nhân yêu nghề, vào 7/11/2003 “Nhã nhạc cung đình Huế” chính thức được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại”, trong đó bao gồm thức trang phục “Nghê Thường Vũ Y” huy hoàng thuở nào.
ĐỌC THÊM
Nghệ thuật Origami và hai thập kỷ nở rộ giữa những nếp gấp mang hồn Việt
5 nghệ sĩ Châu Á ghi dấu ấn nghệ thuật được vinh danh tại Art Basel Awards 2025



