Với Khánh Trần, hội họa là ngôn ngữ biểu đạt - thứ ngôn ngữ giúp anh kết nối với thế giới trong những ngày tháng ấu thơ, và cả mãi sau này…
Từ cậu bé sinh ra ở phố thị Sài Thành, lên bốn tuổi, Khánh Trần theo gia đình chuyển về Buôn Ma Thuột. Mở mắt thức dậy giữa một vùng đất xa lạ, không đèn đường, không tiếng xe cộ, cũng chẳng mấy người quen, hội họa khi ấy dường như là người bạn duy nhất của anh: “Tôi nhớ người bạn đầu tiên của mình là mấy cuốn truyện tranh ba mang về sau mỗi chuyến công tác ở Nga. Đến giai đoạn cuối 1992 - đầu 1993, khi Doraemon bắt đầu phổ biến tại Việt Nam, tôi đọc miệt mài ngày đêm, cặm cụi vẽ theo từng nhân vật. Tôi cứ cầm phấn lên là vẽ, vẽ khắp sàn, khắp tường, vẽ lên mọi khoảng trống, và nuôi ước mơ trở thành họa sĩ truyện tranh”.
Sau này, Khánh Trần không trở thành người vẽ truyện tranh cho trẻ con, nhưng anh lại bước vào thế giới ấy theo một cách rất khác: Trở thành người ươm mầm, người “mở khóa”, người bạn đồng hành giúp các em tìm thấy thứ ngôn ngữ biểu đạt của riêng mình.
Ghé qua trang cá nhân hay không gian lớp học của Khánh Trần, người ta dễ dàng bắt gặp những dòng nhật ký anh viết cho “vườn cây” mình đang mải miết vun trồng:
“Bài của bé Linh vẽ cây đào sau khi học màu của Picasso”.
“Hôm nay Tiên học kiểm soát vòng màu bằng sơn dầu”.
“Nay An lên lớp 3, bắt đầu cần hiểu quy tắc màu sắc. Điều đặc biệt ở cậu bé này là khả năng đọc Value và Hue rất tốt”.
Trong cuộc trò chuyện cùng Tatler Vietnam, Khánh Trần đã có những khoảng chiêm nghiệm sâu sắc về bước ngoặt đến với địa hạt giáo dục, hành trình đi tìm “tính tự sự” nơi xứ người, cùng những trăn trở đầy nhân văn về thế hệ hội họa tương lai.

Above Họa sĩ, người hướng dẫn hội họa Khánh Trần
Cơ duyên nào đã dẫn lối một họa sĩ bước vào địa hạt giáo dục, thưa anh?
Khi lớn lên, tôi vẫn ôm khát khao trở thành họa sĩ truyện tranh. Cuộc sống hầu như chỉ xoay quanh việc học vẽ, luyện vẽ. Những năm đầu 2000, chưa có internet rộng rãi, ngoại ngữ hạn chế nên mình ít tiếp cận được sách vở chuyên sâu hay kiến thức hàn lâm. Tôi nhớ hồi đó, mình là học sinh tỉnh lẻ mà, một hôm vô tình khám phá ra cách pha màu mới, háo hức chạy đến khoe với thầy để rồi nhận lại một gáo nước lạnh: “Cách này các bạn ở Sài Gòn làm nhiều rồi”. Cảm giác uất nghẹn trào lên cổ họng. Tôi không hiểu vì sao sự sáng tạo của mình lại không được hoan nghênh. Phải đến nhiều năm sau này, khi đã đi qua đủ trải nghiệm và tiếp xúc với giáo dục nghệ thuật châu Âu, tôi mới giật mình nhận ra: Tất cả những điều người thầy năm xưa nhận xét không phải để dập tắt nhiệt huyết, mà là một “lời cảnh báo” ngầm về sự chật hẹp của góc nhìn, về những bể cá lớn hơn mà tôi cần phải bơi ra khám phá.
Lên đại học, lúc đó ở Việt Nam cũng chưa có ngành Minh họa nên tôi chọn Thiết kế Đồ họa, vì nghĩ đơn giản “đồ họa” chắc cũng gần với “minh họa”, chắc sẽ được vẽ truyện tranh (cười). Vào học rồi thì mới vỡ lẽ ra là không phải, nhưng ít nhất những kiến thức trong ngành cũng giúp mình có một nền tảng vững chắc về màu sắc và bố cục.
Ra trường, tôi trở thành họa sĩ minh họa. Nhưng đi làm vài năm, tôi lại nhận ra, minh họa là Applied Art (mỹ thuật ứng dụng), tức là bạn vẽ để phục vụ cho người, khác với Fine Art (mỹ thuật thuần túy) - cái tôi đang làm hiện tại - nơi nghệ sĩ vẽ để phục vụ chính mình. Những nét vẽ vốn thuộc về bản thể, những khoảnh khắc thăng hoa cá nhân dần bị mài mòn qua vô số lần chỉnh sửa theo yêu cầu từ người khác. Tôi rơi vào khủng hoảng, mất định hướng đến mức dừng vẽ, lao vào thử đủ thứ nghề từ buôn bán, thời trang, v.v., cái gì cũng làm.


Cho đến một buổi chiều nọ, khi ngồi cà phê với người bạn thân nhìn về quãng thời gian hoang mang ấy, tôi mới nói là: “Chết rồi, nếu cứ như thế này, mình sẽ mãi không biết mình là ai mất”.
Chúng tôi mới ngồi trải lòng, bóc tách từng khúc mắc của nhau. Trong lúc lắng nghe và gỡ rối cho bạn, tôi như chợt ngộ ra một điều kỳ diệu: Những kiến thức và chiêm nghiệm mà tôi vốn từng chỉ giấu riêng cho mình, khi được sẻ chia, lại có thể mang đến giá trị và sự chữa lành cho người khác. Cảm giác ấy nhẹ nhõm và thỏa mãn hơn bất kỳ điều gì.
Lúc đó tôi mới nghĩ: “À, hay là mình thử làm thứ gì đó về chia sẻ”.
Thời điểm đó tôi chưa nghĩ đến việc đi dạy đâu. Tôi chỉ đơn thuần mở một không gian nhỏ để mời những ai yêu thích hội họa đến trò chuyện. Mọi thứ bắt đầu rất tự nhiên: Mọi người đến, kể cho nhau nghe về hành trình bước vào nghề vẽ, về những cuộc đấu tranh với gia đình, về cả những ngày tay trắng vào Nam lập nghiệp với đồng lương ít ỏi. Và dĩ nhiên, tôi cũng kể câu chuyện của mình. Bạn biết không, trong khoảnh khắc đứng trước mọi người chia sẻ suốt 4-5 tiếng đồng hồ không mệt, tôi cảm tưởng như có một dòng điện chạy qua tâm trí.
Tôi chợt nhận ra đây mới chính là sân khấu của mình. Một nơi tôi vừa được chia sẻ, vừa không phải từ bỏ việc vẽ. Và câu trả lời duy nhất xuất hiện trong đầu tôi lúc đó: Chỉ có thể là làm thầy dạy vẽ thôi (cười).
Từ bước ngoặt ấy, một ngọn lửa về con đường giáo dục nghệ thuật bắt đầu nhen nhóm trong tôi. Nhưng tôi hiểu “người dẫn đường” không thể chỉ đi bằng cảm xúc hay sự nhiệt thành. Muốn đồng hành và khai mở tư duy cho người khác, tôi bắt buộc phải trau dồi và nâng cao kiến thức cũng như năng lực bản thân nhiều hơn nữa. Và đó là lúc tôi quyết định xách ba lô lên sang Anh du học.

Lý do gì đã đưa anh đến với Arts University Bournemouth (AUB)? Tại đây, anh có gặp người thầy nào ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy hội họa của mình không?
Nhắc đến giáo dục hội họa là phải nhắc đến Anh. Tôi luôn tò mò rốt cuộc họ có phương pháp dạy đặc biệt thế nào mà lại được đánh giá cao như vậy.
Thật ra ban đầu, tôi từng né AUB vài lần vì cơ bản là học phí cao, mà trường còn nằm ở miền Nam nước Anh nên sinh hoạt phí cũng rất đắt đỏ. Dù vậy, như một mối duyên định sẵn, tôi vẫn quay về với AUB, vì nhiều lý do, trong đó đáng nói nhất chắc là vì “Blue House” - một cách gọi vui của sinh viên trường về tòa The Drawing Studio. Đây là công trình xưởng vẽ độc lập đầu tiên được xây dựng tại một trường đại học ở Anh trong suốt 100 năm qua, do cựu sinh viên trường thiết kế và được bảo trợ bởi họa sĩ David Hockney. Trong Blue House, mọi người thường tổ chức các lớp học vẽ, workshop, triển lãm nhỏ, v.v.
Hồi đó, tôi đến AUB với tâm thế rất tự tin là kỹ thuật vẽ của mình tốt lắm rồi, rằng mình chỉ đến đây để quan sát thêm thôi. Nhưng ngay học kỳ đầu tiên, tôi trải qua hết cú sốc này đến cú sốc khác để rồi vỡ mộng: Hóa ra mình chẳng biết gì về mỹ thuật cả.
Phương pháp dạy tại đây kỳ lạ lắm. Ở buổi học đầu tiên của học kỳ, họ sẽ đặt ra cho bạn câu hỏi: “Who am I?” (Bạn là ai?) và yêu cầu cuối kỳ bạn phải nộp bài luận trả lời được câu hỏi đó, bằng cách nào tùy bạn. Suốt hai tháng đầu, tôi hoang mang lắm. Tôi vừa lên lớp, vừa nghe giảng, vừa vẽ rất nhiều, nhưng Lisa - cô giáo chủ nhiệm của tôi - chỉ nhìn tranh tôi rồi lắc đầu: “Em vẽ nhiều nhưng tranh của em thiếu tính narrative”. Đến một buổi học khác, cô trợ giảng (hàm tiến sĩ) cũng nhận xét y hệt. Rồi đến lần thứ ba, có khách mời chuyên môn tham gia lớp học, họ cũng nhìn tranh tôi và nói y như vậy, rằng: “Em may mắn khi có kỹ thuật vẽ tốt, nhưng tranh em không có tính narrative”.
Suốt hai tháng trời, tôi trằn trọc đi tìm lời giải nhưng vô vọng. Tôi mắc kẹt, thậm chí quay sang chán ghét chính những nét vẽ của mình.


Ít lâu sau, trường có chuỗi workshop do một nữ giáo sư tổ chức. Hồi đó, tôi là kiểu sinh viên mà hầu như tất cả các workshop trong trường đều tham gia. Nhưng giai đoạn đó, vì đang mải miết đi tìm đáp án cho câu hỏi “Tính narrative là gì?”, tôi quyết định không đăng ký. Cô Lisa không thấy tên tôi trên danh sách thì trực tiếp đến hỏi lý do. Tôi lắc đầu, bảo rằng mình cần tập trung cho bài luận. Thì cô khăng khăng: “Không, em phải tham gia”, rồi tự tay điền tên tôi vào danh sách.
Mãi sau này, tôi mới hiểu tại sao cô cứ kiên quyết bắt tôi phải tham gia workshop đó. Vì nó đã thay đổi tất cả.
Workshop bắt đầu từ thứ Hai, đến chiều thứ Sáu là phải hoàn thành tác phẩm để trưng bày cho toàn trường xem, cũng ngay tại Blue House. Cố lắm mà mãi không ưng, đến chiều thứ Tư, tôi bỏ dở bài làm rồi về.
Tôi lang thang khắp nơi, tình cờ, hôm đó đúng vào dịp diễn ra sự kiện “Frida Kahlo: Making Her Self Up”. Tôi nhớ mình đã tạt ngang một nhà sách, vô tình nhặt lên cuốn trích dẫn nhỏ của Frida. Lật ngẫu nhiên một trang, câu nói của bà đập vào mắt tôi: “Tôi không vẽ cơn ác mộng, cũng không vẽ những giấc mơ. Tôi chỉ vẽ những gì mình thấy” (I don't paint dreams or nightmares. I paint my own reality).
Tôi ngẩn người một hồi, rồi bắt đầu lật giở lại các bức tranh của Frida và nhận ra: “Ồ, Frida vốn không hề lệ thuộc vào những tiêu chuẩn kỹ thuật hội họa. Bà vẽ rất tự nhiên, như thể tôi thấy thế nào thì vẽ thế ấy, thích màu nào dùng màu nấy, tôi không bận tâm đến quy chuẩn của người khác”. Khoảnh khắc ấy, tôi như bừng tỉnh ra là: “À, tại sao mình lại phải nỗ lực gò ép bản thân vào kỳ vọng của người khác? Tại sao mình không làm những gì mình thực sự thích?”.
Chiều thứ Năm, tôi quyết định quay lại Blue House, quyết định làm cái gì mình thấy vui là được. Tôi bắt đầu ngồi xé những mảnh giấy vụn một cách vô thức. Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, cô Lisa ghé ngang qua xưởng. Cô qua chào cô giáo sư rồi đi một mạch đến chỗ tôi, nhặt vài mẩu giấy lên và hỏi: “Khánh, cái này là gì?”. Tôi đáp: “Đây là mưa”. Cô hỏi tiếp: “Tại sao em lại làm mưa như thế này?”. Tôi thật thà: “Em cũng không biết nữa, tự nhiên em thấy thích, thấy vui thì làm thôi”. Cô nhìn tôi, mỉm cười rồi nói: “Khánh, đây chính là mark making”.
Bạn tin không, trong một giây đó, tất cả những câu hỏi về mỹ thuật bị mắc kẹt của tôi suốt mấy tháng trời như vỡ tan ra hết.
Tôi chợt hiểu ra là: Làm nghệ thuật thì phải vui. Dù là hội họa, sắp đặt, điêu khắc hay bất kỳ hình thức biểu đạt nào, phải vui mới làm được. Cái “vui” ở đây không phải ý chỉ nụ cười hay lúc nào cười mới là vui, vui ở đây là trạng thái mà bạn hoàn toàn đắm chìm vào dòng chảy của chính mình, là khi ta dốc hết sức đi tìm câu trả lời cho một trăn trở, để rồi trong khoảnh khắc nào đó, ta tìm thấy chính ta.
Nhìn lại, tôi nghĩ để trả lời được câu hỏi “Who am I?”, bạn bắt buộc phải gặp được một người thầy đủ tâm và đủ tầm để đặt ra câu hỏi đó cho bạn. Và trong thời khắc cần thiết, họ sẽ trao cho bạn chiếc chìa khóa, nhưng dĩ nhiên, để bạn tự tìm cánh cửa và cách mở khóa của riêng mình.
Đúng như câu nói: “Khi người học trò sẵn sàng, người thầy sẽ xuất hiện”. Tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn khi trên hành trình đi tìm bản thể trong hội họa, chưa một lần nào tôi phải cô độc quá lâu trước những cánh cửa đóng kín.
Đọc thêm: Nuôi dạy một thế hệ biết lựa chọn trong thời đại vô hạn câu trả lời

Mỹ thuật không có bất kỳ tiêu chuẩn cố định nào. Câu hỏi duy nhất là: Bạn có đủ can đảm bước ra khỏi vùng an toàn và cất lên tiếng nói của chính mình hay không?
Sau này, anh cũng trở thành một người đặt câu hỏi “Who am I?”, một người trao chìa khóa trong lớp học của riêng mình. Anh có thể chia sẻ về sự ra đời của Art Portfolio? Tôn chỉ giáo dục cốt lõi mà anh đang xây dựng tại Art Portfolio là gì?
Để có được Art Portfolio như hiện tại là cả một hành trình thử nghiệm rất dài: Từ không gian chia sẻ ban đầu, đến một lớp học nhỏ, sau đó thử mở rộng thành trung tâm, rồi lại thu hẹp về nhóm 2-3 bạn, và hiện tại là mô hình cá nhân hóa 1:1.
Thật ra tôi từng tham vọng mang mô hình của mình đến với tất cả mọi người, nhưng sau thời gian thử nghiệm, tôi nhận ra việc áp dụng phương pháp giáo dục châu Âu tại Việt Nam không dễ chút nào. Cuối cùng, tôi chọn cách đi sâu thay vì đi rộng.
Hiện tại, Art Portfolio có hai nhóm học viên chính: Một là các em còn nhỏ, chưa xác định có đi du học hay không, nhưng rất thích vẽ; hai là các bạn cấp 3 đang chuẩn bị cho con đường du học hội họa chuyên nghiệp.
Đến với Art Portfolio, tôi luôn minh bạch với học viên và phụ huynh rằng: “Giáo trình ở đây sẽ không giống bất kỳ nơi nào khác”. Bởi lẽ giáo dục hội họa, suy cho cùng, rất giống việc ươm mầm. Nếu mỗi hạt giống mang một đặc tính sinh trưởng riêng biệt, thì mỗi em đến với Art Portfolio cũng là một bản thể duy nhất với nền tảng, trải nghiệm và vấn đề hoàn toàn khác nhau. Nhiệm vụ của “người trồng cây” không phải là áp đặt một bộ khuôn có sẵn, mà là quan sát để tìm ra cách “nuôi dưỡng” phù hợp nhất cho từng em.

Nhiệm vụ của “người trồng cây” không phải là áp đặt một bộ khuôn có sẵn, mà là quan sát để tìm ra cách “nuôi dưỡng” phù hợp nhất cho từng em.
Anh có thể chia sẻ cụ thể hơn về những phương pháp “ươm mầm” đặc biệt của mình?
Thường thì trong mười buổi đầu tiên, tôi sẽ để các em hoàn toàn “chơi” với màu sắc và chất liệu, vẽ tự do theo ý mình. Thỉnh thoảng, tôi cài cắm một vài lý thuyết nhỏ để thử xem mức độ tiếp nhận của từng em ở mức nào. Đây là giai đoạn tôi dành nhiều thời gian quan sát và nhận diện vấn đề của học trò.
Khi đã thấu hiểu. Tôi sẽ xây dựng lộ trình và phương pháp học riêng cho từng em. Có em tôi sẽ dẫn đi bảo tàng để quan sát; có em tôi lại dắt ra sở thú, ngồi vẽ dưới bóng cây. Có em hoàn toàn bất lực với đầu bút chì nhọn, nhưng khi chạm vào chất liệu mềm như sơn dầu hay màu sáp thì năng lượng như bùng nổ. Có em sợ tiếng phấn rít trên mặt giấy, nhưng lại tìm thấy sự bình yên khi “thả trôi” cọ cùng màu nước. Tại Art Portfolio, tôi để các em được thử nghiệm với đa dạng chất liệu để tìm ra phương tiện biểu đạt phù hợp nhất với mình.
Về cách tiếp cận và chỉnh sửa bài, tôi luôn tuân thủ một nguyên tắc: Tuyệt đối không đụng tay vào bài vẽ của các em.
Bởi vì mỗi người vẽ đều sở hữu một “giọng nói” riêng. Khi bạn đặt nét vẽ của mình lên bài của học trò, vô tình nét vẽ ấy trở thành một nguyên mẫu. Các em sẽ bắt chước và không bao giờ tìm ra được “tiếng nói” của riêng mình. Tôi chọn cách ngồi sau quan sát, đặt câu hỏi gợi mở về những vấn đề của bài vẽ. Các em hay nói vui là “luôn có tiếng vọng từ phía sau” (cười).
Tôi cũng khuyến khích các em bước ra khỏi vùng an toàn để làm giàu vốn sống. Hồi đó, tôi nhớ có một học viên tìm đến tôi trong lúc tuyệt vọng vì hồ sơ du học bị trường từ chối nhiều lần. Tôi bảo em: “Thầy nghĩ em nên rời khỏi không gian an toàn hiện tại để nghiêm túc nhìn lại hành trình của mình”. Thế là em quyết định xách ba lô đi Phú Yên hai tuần. Ngày trở về, em đưa tôi xem những bức ký họa mới của mình. Tôi bảo: “Đây mới chính là ngôn ngữ của em”.
Khoảnh khắc ấy giống hệt ngày tôi nhận ra mark making tại Blue House của AUB năm nào. Em ngồi làm lại toàn bộ portfolio, sau đó hai thầy trò cũng có ngồi chỉnh sửa chút. Hồ sơ ấy không chỉ giúp em trúng tuyển vào đúng ngôi trường mơ ước, mà sau đó còn được trường chọn để nộp lên xét học bổng của Chính phủ Bỉ.
Mỹ thuật chưa bao giờ là việc nhốt mình trong phòng hàng giờ để luyện vẽ. Nếu đọc lịch sử nghệ thuật, bạn sẽ hiểu bối cảnh đời sống và những thăng trầm đã nhào nặn nên Picasso hay Van Gogh ra sao. Nghệ thuật luôn phản chiếu sự kết nối giữa cá nhân và xã hội. Trong một tác phẩm phải gửi gắm những thông điệp, những trăn trở thực tế. Cùng một keyword, mỗi người sẽ có cách định nghĩa khác nhau dựa trên vốn sống của mình. Narrative - tính tự sự - suy cho cùng, hình thành từ chính quá khứ và trải nghiệm thực tế của người nghệ sĩ. Chúng là đề tài, là chất liệu và là điểm khởi đầu để bạn biết mình thực sự muốn gì. Mỹ thuật không có bất kỳ tiêu chuẩn cố định nào. Câu hỏi duy nhất là: Bạn có đủ can đảm bước ra khỏi vùng an toàn và cất lên tiếng nói của chính mình hay không?
Đọc thêm: Bản chất của nghệ thuật trừu tượng: Khi hình ảnh “Đi Vắng”

Là một người từng học tập tại phương Tây nhưng vận hành không gian giáo dục tại Việt Nam, khó khăn là gì, thưa anh?
Giáo dục mỹ thuật phương Tây đòi hỏi bạn phải đọc và viết rất nhiều. Khi dạy, tôi yêu cầu học viên viết Reflective essay (Bài luận phản tư). Nhiều em thắc mắc: “Học vẽ tại sao phải viết?”. Nhưng để vẽ, bạn bắt buộc phải viết, và để viết được một bài luận tử tế, bạn bắt buộc phải đọc, phải nghiên cứu và tìm kiếm bằng chứng để bảo vệ cho nhận định nghệ thuật của mình.
Nhiều năm giảng dạy tại một số trường đại học ở Việt Nam, tôi nhận ra rất ít sinh viên làm được điều này. Ở lớp, tôi thường cho các em bắt đầu bằng việc thực hành viết “Nhật ký hành trình”. Mỗi khi gặp vấn đề hay trải nghiệm hội họa đáng nhớ, các em sẽ chụp ảnh lại, ghi chép suy nghĩ hoặc cảm nhận cá nhân, rồi bắt đầu nghiên cứu, tìm hiểu xem đã có ai trăn trở về đề tài này chưa, các họa sĩ trước đó đã xử lý ra sao, và những góc nhìn hàn lâm nào có thể lý giải cho hiện tượng đó.
Và muốn viết, cách duy nhất là phải đọc.
Bạn biết không, khi đứng ở vị trí người thầy nhìn vào tranh của học trò, tôi rất dễ dàng nhận ra vấn đề và bảo các em cần sửa chỗ này, thay đổi chỗ kia. Nhưng khi chính mình ngồi trước trang giấy trắng, tôi cũng rơi vào sự hoang mang y hệt. Những lúc bế tắc như thế, tôi dừng vẽ và bắt đầu đọc.
Thời gian đầu rất kinh khủng vì chữ nghĩa không chịu vào đầu. Nhưng bộ não cũng giống như một khối cơ, bắt buộc phải rèn luyện hàng ngày. Ban đầu là mỗi sáng một trang sách, dần dà, khối lượng đọc của tôi đã tăng lên rất nhiều.
Trong mỗi buổi học, tôi đều chủ động đề xuất những đầu sách phù hợp. Có những cuốn các em tự tìm, cũng có những cuốn tôi sẵn sàng cho mượn từ tủ sách cá nhân hoặc nhờ bạn bè quốc tế tìm mua giúp.
Nhiều người vẫn lầm tưởng hội họa chỉ là cầm cọ lên vẽ. Nhưng thực ra, mỹ thuật là một bộ môn khoa học. Trong đó, đọc và viết không phải bài tập phụ trợ, mà là nền móng bắt buộc để người nghệ sĩ xây dựng tư duy và thế giới quan cho riêng mình.



Nhìn vào tranh của các học trò ở thời điểm hiện tại, anh nghĩ các em muốn kể điều gì?
Với tôi, sản phẩm của học trò chưa bao giờ đơn thuần là một bức tranh, một bài vẽ, mà chính là toàn bộ hành trình chuyển biến bên trong các em.
Tôi nhận thấy thế hệ trẻ ngày nay có sự dũng cảm để bước ra khỏi những khuôn khổ và tiêu chuẩn của mỹ thuật truyền thống. Tôi cũng nhận thấy tín hiệu đáng mừng khi các bạn nhỏ lớp tôi chủ động tìm kiếm và đăng ký các khóa học mỹ thuật ngắn hạn, trại hè, chương trình trao đổi quốc tế.
Tôi hy vọng thế hệ họa sĩ sau này sẽ có sự thay đổi và phát triển về tư duy hội họa, hiểu rõ bản chất của mỹ thuật và nắm được phương pháp học tập đúng đắn.
Tuy nhiên, tôi chỉ có một trăn trở suốt nhiều năm qua mà ít chia sẻ với ai, đó là với những đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn, ai sẽ là người phát hiện và nâng đỡ các em?
Tôi vẫn luôn nuôi dưỡng ý tưởng về một dự án giáo dục nghệ thuật dành cho các em nhỏ thiếu thốn điều kiện đào tạo bài bản. Dù hành trình này còn nhiều khó khăn về nguồn lực và chưa tìm được những người đồng hành phù hợp để đưa ra một lời hứa hẹn chắc chắn, tôi vẫn đang âm thầm làm từng chút một. Hội họa, suy cho cùng, phải thuộc về tất cả mọi người. Nếu chúng ta bỏ quên những “mầm non” ấy, đó sẽ là một tổn thất vô cùng lớn với nghệ thuật Việt Nam.

Hạnh phúc lớn nhất của một người thầy là gì? Và anh có bao giờ lo lắng vai trò “Educator” sẽ lấn lướt và làm mờ đi danh xưng “Artist” của mình?
Nếu nói thật thì là sự thành công của học trò, nhưng từ “thành công” ấy có nhiều cách định nghĩa. Đôi khi là portfolio của các em được chấp nhận bởi một ngôi trường danh tiếng, đôi khi là học trò đi du học rồi quay về kể cho tôi nghe Art Portfolio đã giúp các bạn có nền tảng vững chắc thế nào, hoặc đơn giản là nhìn thấy các em chia sẻ về hành trình du học ở những vùng đất mới của mình, tôi cũng thấy vui lây. Ở thời điểm hiện tại, chỉ cần mỗi ngày trôi qua, thấy học trò tiến thêm một bước, điều đó với tôi đã là thành công rồi.
Còn với câu hỏi thứ hai, đây cũng là thắc mắc mà rất nhiều người từng đặt ra cho tôi. Thú thật, ở cả hiện tại lẫn tương lai, con đường chính mà tôi xác định gắn bó vẫn là giáo dục.
Và tôi nhận ra một điều là, tôi chỉ vẽ tranh khi cảm thấy đủ, và không ai mua tranh của tôi cũng không sao. Mỗi tác phẩm tôi tạo ra phải đánh dấu một cột mốc trên hành trình trưởng thành của bản thân. Tôi không cho phép mình vẽ hời hợt. Mỗi bài vẽ phải mang DNA cá nhân, phải chứa một thông điệp.

Hội họa, suy cho cùng, phải thuộc về tất cả mọi người.
Nếu bây giờ có thời gian rảnh và được ngồi vẽ truyện tranh trở lại, anh có hình dung được mình sẽ vẽ một cuốn truyện tranh như thế nào không?
Thực ra, câu hỏi bạn đặt ra cũng chính là trăn trở gần đây của tôi: Liệu tôi có muốn quay trở lại với giấc mơ thuở bé - dưới một cái tên hoàn toàn khác?
Đến giờ tôi vẫn yêu truyện tranh. Chỉ có điều, khi đã là một người lớn, và hơn hết là một người làm giáo dục, mình sẽ không còn đọc nó ngô nghê như hồi xưa nữa. Mình sẽ biết rằng, dù là bức tranh nhỏ xíu thôi cũng đang phải “gánh vác” một thông điệp.
Sau hơn 7 năm giảng dạy, tôi nhận ra trẻ em ngày nay đang phải đối mặt với quá nhiều áp lực và vấn đề tâm lý. Nên nếu được vẽ một cuốn truyện tranh lúc này, tôi muốn vẽ về những góc khuất trong tâm hồn trẻ em Việt Nam. Tôi hy vọng cuốn truyện sẽ trở thành người bầu bạn cùng các em, và cũng là để thức tỉnh người lớn, để phụ huynh thấu hiểu, lắng nghe và đồng hành cùng con mình đúng cách hơn.
Biết đâu, đó có lẽ sẽ là cách tôi quay lại trò chuyện với Khánh Trần năm 4 tuổi. Thắp một “ngọn đèn” cho tôi và cho cả những đứa trẻ giống tôi.




