Còn sức mạnh nào lớn hơn sự đồng cảm giữa hàng trăm, hàng ngàn con người cùng một lúc? Đó là thứ sức mạnh dễ dàng được cảm nhận trong những buổi hòa nhạc bất kể quy mô. Là nghệ sĩ piano lão luyện, Đặng Thái Sơn có lẽ hiểu hơn ai hết sức mạnh lớn lao đó của âm nhạc. Một sức mạnh còn lớn hơn quyền lực, địa vị, hay gốc gác của một người
Hãy hình dung ra khung cảnh một không gian rộng lớn nhưng khép kín, được bao bọc bởi những tấm rèm nhung, nơi âm thanh được khuếch trương lên theo mức đủ lấn át tất cả nhưng không làm người nghe thấy khó chịu, nơi quy tụ hàng trăm sinh viên xuất sắc nhất đến từ các học viện âm nhạc hàng đầu khối Xã hội Chủ nghĩa. Giữa khán phòng lộng lẫy, một cậu học trò có thân người nhỏ nhắn, vẫn còn chưa tốt nghiệp, khoác lên người bộ suit vừa được may từ khoản vay của Đại sứ quán Việt Nam, cùng chiếc áo sơ mi được mượn từ một người đồng hương lạ mặt, đã tạo nên lịch sử khi là nghệ sĩ dương cầm Châu Á đầu tiên đạt thành tích cao nhất. Đó chính là cuộc thi piano quốc tế Frédéric Chopin lần thứ X, được tổ chức vào tháng 10 năm 1980 ở Warszawa, Ba Lan. Và cậu học trò mang vinh quang lớn cho Việt Nam năm ấy chính là Đặng Thái Sơn.
Chiến thắng của Đặng Thái Sơn là điều bất ngờ với tất cả mọi người, mọi quốc gia, kể cả chính ông. Dù xuất thân từ Nhạc viện Tchaikovsky danh giá tại Nga, nhưng trong toàn bộ những thí sinh dự thi, Đặng Thái Sơn là người duy nhất chưa từng tham gia bất cứ cuộc thi quốc tế nào. Ông cũng là thí sinh gặp nhiều thiếu thốn về vật chất, phải thức đêm di chuyển trên tàu hỏa, mượn quần áo trình diễn; lại không có thầy cô hay bạn bè cổ vũ. Frédéric Chopin là cuộc thi piano uy tín bậc nhất đối với khối XHCN thời bấy giờ, và cũng là một trong những cuộc thi piano lớn nhất thế giới, nơi chỉ chơi các tác phẩm của nhạc sĩ Ba Lan thiên tài cùng tên, được tổ chức theo chu kỳ 5 năm một lần. Năm Đặng Thái Sơn đi thi cũng là năm đầu tiên Việt Nam có đại diện tham dự. Trước ông, và sau ông, chưa từng có bất cứ nghệ sĩ piano hoặc nghệ sĩ âm nhạc cổ điển Việt Nam nào tham gia và đoạt giải cao nhất ở các cuộc thi quốc tế lớn như vậy.

Above Đồng hồ: Piaget Polo 79

Above Đồng hồ: Piaget Altiplano Origin
Giải thưởng năm 1980, theo lời Đặng Thái Sơn đã lặp đi lặp lại trong nhiều cuộc trò chuyện, chính là điều đã thay đổi cuộc đời của ông và cả gia đình ông. Sau cuộc thi, dưới sự bảo trợ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông đưa người mẹ là nghệ sĩ piano Thái Thị Liên sang Nga cùng sinh sống; cho cha là nhà thơ, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng có cơ hội chữa trị khối u với sự cứu chữa tận tình của các bác sĩ lớn nhất thời bấy giờ là Hoàng Đình Cầu và Tôn Thất Tùng. Ông cũng được tạo điều kiện biểu diễn ở các nước, bao gồm cả các nước Tây Âu; được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân vào năm 1984, là nghệ sĩ trẻ nhất từng nhận được danh dự này cho đến nay. Lúc đó, ông mới 26 tuổi.
Đặng Thái Sơn cũng là nghệ sĩ piano duy nhất không phải là người Ba Lan được mời đến dự tiệc hòa nhạc nhân kỷ niệm 150 năm ngày mất của Frédéric Chopin; là một trong 3 nghệ sĩ piano toàn cầu được mời tham gia biểu diễn nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Chopin tại Warsaw vào năm 2010, bên cạnh đại diện Lý Vân Địch người Trung Quốc và Garrick Ohlsson người Mỹ. Ông cũng là nghệ sĩ piano được mời tham gia vào hội đồng giám khảo cuộc thi Frédéric Chopin tổ chức tại Ba Lan 5 lần liên tiếp, một vinh dự chưa từng dành cho bất cứ nghệ sĩ nào từ châu Á trước đây.
Cuối tháng 12/2024, nghệ sĩ Đặng Thái Sơn lại trở về Việt Nam theo lịch trình buổi biểu diễn tưởng nhớ cố nghệ sĩ dương cầm Thái Thị Liên, cũng là mẹ của ông, cùng với các thế hệ học trò của bà tại Học viện Âm nhạc Quốc Gia Việt Nam tại Hà Nội, cũng là nơi mà bà Trần Thu Hà, người chị cùng mẹ khác cha của ông đang phụ trách điều hành. Giữa lịch trình dày đặc được lên kế hoạch từ 3, 4 năm trước, nghệ sĩ Đặng Thái Sơn vẫn giữ cho mình cốt cách khiêm nhường và giản dị đúng với tâm thế của một nghệ sĩ lớn khi đạo đàm về những gì đã qua.
Như ông đã nói, Đặng Thái Sơn là một nghệ sĩ piano. Nhưng chính xác thì mối liên kết giữa nghệ sĩ Đặng Thái Sơn và piano là gì?
Tôi sinh ra trong một gia đình lúc nào cũng có âm nhạc. Mẹ tôi và dì tôi, Thái Thị Liên và Thái Thị Lang chính là hai người Việt Nam đầu tiên học piano chuyên nghiệp, nên tôi đã được tiếp xúc với âm nhạc từ rất sớm, khoảng 3 đến 4 tuổi. Một trong những ký ức đầu tiên và thú vị nhất đối với tôi là đàn piano. Đàn piano giống như một trò chơi về âm thanh, tôi thường đến bên cây đàn, bấm phím này phím kia để tìm ra những giai điệu, bài hát. Đó là những khoảnh khắc khiến tôi rất phấn khởi và là những tiếp xúc đầu tiên của tôi với âm nhạc.
Mỗi người đều có một ngôn ngữ, một nhu cầu thể hiện những điều mình “nghĩ” và “cảm” được. Đối với tôi, ngôn ngữ đó là âm nhạc. Đàn piano với tôi giống như người bạn đời thân thiết nhất. Có những điều tôi dè dặt khi nói với người thân trong gia đình, nhưng với piano thì hoàn toàn cởi mở, không giấu diếm điều gì.
Đọc thêm: Nghệ thuật như là ý niệm

Ông là nghệ sĩ Việt được phong tặng danh hiệu “nghệ sĩ nhân dân” ở độ tuổi trẻ nhất, 26 tuổi. Sự kiện ấy đã tác động đến tâm tưởng và sự nghiệp của ông như thế nào?
Tôi nghĩ rằng đó là một vinh dự lớn, nhưng không nên coi đó là cái đích của một người nghệ sĩ.
Ông là nghệ sĩ dương cầm châu Á với nhiều cái “nhất” và “đầu tiên” trên thế giới. Để làm được điều đó, hẳn là ông sở hữu kỹ thuật chơi đặc biệt mà hiếm ai đạt được. Ông có thể chia sẻ thêm về điều này?
Nghệ thuật có hai phần: một phần là kỹ xảo, kỹ thuật, sự điêu luyện; phần còn lại là nội dung chúng ta muốn truyền tải. Kỹ xảo và kỹ thuật có thể học được ở trường lớp, và bản thân tôi cũng đã học tại Nhạc viện Quốc gia Tchaikovsky ở Nga, nơi cung cấp cho tôi nền tảng cơ bản, vững vàng. Nhưng điều quan trọng hơn của người nghệ sĩ là có cái gì để nói lên với âm nhạc của mình. Kỹ xảo chỉ giúp mình hoàn thiện hóa những gì mình muốn nói.
Nội dung mà nghệ sĩ muốn truyền tải thường phải tự phát triển từ kinh nghiệm sống, cùng khao khát được khám phá thế giới. Cuộc đời tôi đã phải trải qua nhiều thử thách, chúng mang đến cho tôi kinh nghiệm sống phong phú. Sinh ra là người Hà Nội, nhưng từ năm 7 tuổi, tôi cùng mẹ tản cư lên Hà Bắc (tên gọi chung của hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh trước đây), dành phần lớn tuổi thơ ở đây, trồng cây, chăn trâu, chăn bò như bất cứ cậu trai quê nào khác. Sau này khi nghĩ lại, những trải nghiệm này thực sự quan trọng và sâu sắc. Mặc dù ở thời điểm ban đầu, kỹ xảo hay kỹ thuật của tôi không thể nhanh và mạnh như những học sinh được đào tạo ở nước ngoài, nhưng bù lại, kinh nghiệm sống của tôi có phần phong phú hơn. Thời thơ ấu của tôi, sự tiếp xúc giữa con người với thiên nhiên, giao đãi giữa con người với con người trong đời sống thôn quê đều khác hẳn bây giờ. Đều là dân sơ tán, chúng tôi có chung một cảnh ngộ, chia với nhau từng miếng ăn, mẩu sách, vui buồn đều san sẻ. Những điều đó giúp tôi có sự thấu cảm nhiều hơn về sau này.
“Điều quan trọng hơn của người nghệ sĩ là có cái gì để nói lên với âm nhạc của mình. Kỹ xảo chỉ giúp mình hoàn thiện hóa những gì mình muốn nói”
Ông được xem như là nghệ sĩ piano hàng đầu Việt Nam. Vậy còn thách thức nào với cây đàn mà ông cảm thấy mình vẫn chưa vượt qua được?
Đối với tôi, âm nhạc không giống như thể thao, không cần có thách thức và vượt qua như nhảy phải cao hơn, chạy phải nhanh hơn. Khi tôi có đầy đủ kỹ thuật và sự điêu luyện để biến những gì trong đầu thành âm thanh thực sự, đó chính là niềm hạnh phúc lớn nhất. Đến giờ, có thể nói là chuyện này không còn là vấn đề. Nếu trước kia, tôi cần nâng cao “tay nghề” thì bây giờ mọi thứ đều thao tác một cách tự động.
Ông từng chia sẻ rằng: “Nếu nói đến việc nghe một nghệ sĩ khác, biểu diễn trực tiếp, một người mà lối chơi ở tầm khiến tôi cảm thấy mình không thể nào với tới được, thì đó là Vladimir Horowitz”. Điều gì ở Horowitz đã trở nên bất khả với ông?
Bản thân tôi không chỉ có một thần tượng, mà còn là nhiều thần tượng khác nhau qua thời gian. Tuy nhiên, hâm mộ là một chuyện, bắt chước họ lại là chuyện khác, vì mỗi người có năng khiếu bẩm sinh và bản chất khác nhau. Nếu cố gắng bắt chước thì mình không bao giờ bằng họ. Quan trọng là mình phải tìm ra cái tôi, cái riêng và tự nhiên của mình, để từ đó phát triển. Có thể tôi còn thiếu điều này điều kia, và khi nghe ông ấy [Horowitz – PV], tôi có cảm giác là mình được bù đắp. Nhưng ngược lại, tôi cũng có những điều rất riêng, nên khó mà so sánh cái gì hơn cái gì, vượt lên hay là không.

Above Áo suit: Dior Homme; Đồng hồ: Piaget Altiplano Origin
Có thể thấy ông chủ yếu trình diễn các tuyệt phẩm bất hủ từ những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thế giới như Beethoven, Chopin, Schumann, Grieg, Mozart, Rachmaninov,... Giữa các nhạc sĩ ấy, ông nhận thấy ai là người mang đến cho mình xúc cảm mạnh mẽ nhất khi chơi?
Có lẽ ai cũng biết câu trả lời của tôi, đó chính là Chopin, có lẽ vì nội tâm của ông rất gần gũi với tôi. Những gì xảy ra trong cuộc đời của Chopin có nhiều điểm rất gần gũi với tôi, bản tính tự nhiên cũng thế, thiên về tình cảm hơn. Như đã nói ở trên, nghệ thuật mà cứ êm đẹp thì lại không thành công. Bản thân Chopin hay Beethoven đều có cuộc đời không phẳng lặng, nên âm nhạc của họ mới trác tuyệt đến vậy.
Gần đây, tôi chơi thêm nhiều bản thuộc dòng nhạc ấn tượng của Pháp, tiêu biểu là Claude Debussy và Maurice Ravel. Đó không chỉ là sự đẹp đẽ về mặt âm thanh mà còn giống như sự thừa hưởng từ thời niên thiếu của mẹ tôi, người dạy tôi những nốt nhạc đầu tiên và cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ trường phái của Pháp. Tôi thừa hưởng những điều đó và sau này cũng thích gu âm nhạc tinh xảo từ nước này. Đây chính là những tác phẩm chính trong các chương trình biểu diễn gần đây của tôi.
Khách quan mà nói, chúng ta đã có rất nhiều điều kiện tốt hơn so với cách đây hàng trăm năm - thời hoàng kim của nghệ thuật chơi piano, với những cây đàn được cải tiến, nhiều nghệ sĩ có trình độ cao, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện. Thế nhưng, chúng ta lại gần như không có một nhà soạn nhạc nào đạt đến trình độ thiên tài như Chopin, Bach, Schubert hay Mozart ngày xưa. Theo ông là vì sao? Có phải vì nghệ thuật cổ điển đã đạt đến đỉnh cao không thể vượt qua được nữa?
Theo tôi, xu hướng này không chỉ xảy ra với âm nhạc cổ điển mà còn tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, từ hội họa đến văn học. Bây giờ, mọi thứ đang đi về hướng chuyên môn hóa, ngày càng tinh xảo hơn và chia thành nhiều nhánh nhỏ. Nếu như hồi xưa chỉ có nhạc cổ điển và mọi người tập trung vào nó, thì giờ đây, họ có hàng trăm, hàng ngàn dòng nhạc khác để thu hút sự chú ý. Xã hội phát triển, nhiều sức hấp dẫn đến từ nhiều phía, nên chúng ta không cần cảm thấy bi đát về điều này làm gì. Giống như khi xem bộ phim “Midnight in Paris” của Woody Allen ấy, con người dù ở thời đại đỉnh cao nào khi nhìn về quá khứ cũng thấy sự ưu việt, nhưng trên thực tế, họ cũng đang trải qua những chuyển biến lớn trong nghệ thuật và nhận thức xã hội đấy thôi.
Những nghệ sĩ âm nhạc cổ điển như ông có cảm thấy… lạc lõng trong một thời đại kỹ thuật số, nơi mà người ta chú ý đến vẻ ngoài của một ca sĩ hơn là giọng hát, về hiệu ứng hình ảnh của MV hơn là thông điệp mà nó truyền tải, về những gì mà họ làm trong đời sống riêng hơn những điều mà họ cống hiến cho thế giới nghệ thuật nói chung?
Hiện nay, xã hội chia rẽ thành nhiều gu khác nhau, và mỗi gu đều có sự đáp ứng nhất định. Hồi xưa, vì ít sự lựa chọn nên người ta tập trung hơn, còn bây giờ chia ra nhiều lại có cái hay riêng của nó. Mỗi người dù thích gì đều được đáp ứng và họ có thể tìm thấy niềm vui, hạnh phúc theo lựa chọn của mình.
“Xã hội phát triển, nhiều sức hấp dẫn đến từ nhiều phía, nên chúng ta không cần cảm thấy bi đát về sự thụt lùi của các hình thức nghệ thuật cổ điển để làm gì”
Bên cạnh âm nhạc cổ điển, nhạc dân tộc là điều rất cần gìn giữ đối với người Việt Nam. Theo ông, để làm được điều đó, chúng ta cần làm gì?
Đây là một xu hướng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước từ châu Âu đến châu Á. Nếu dửng dưng, nó sẽ dễ bị quên lãng. Luôn cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan có trách nhiệm đến từ các mạnh thường quân để vực dậy, nuôi dưỡng và bảo trợ thì nó mới có thể tồn tại. Tôi nghĩ, điều chúng ta cần làm ở đây chính là kết hợp gốc rễ với tính hiện tại. Ví dụ điển hình là bài “Trống cơm” do nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc biên soạn lại với ngôn ngữ hiện đại. Tôi là người biểu diễn, đóng vai trò đưa âm thanh đến với người nghe từ những nốt nhạc đầu tiên.
Có thể nói, “Trống cơm” là một sự kết hợp kỳ lạ giữa nền nhạc piano cổ điển và dân ca Việt Nam. Trong thời gian tới, ông có ý định tạo nên những tác phẩm tương tự trong tương lai, như một cách đưa âm nhạc Việt Nam bước ra tiệm cận với âm nhạc thế giới?
Luôn luôn là có. Chỉ có điều là khi bản thân mình là người biểu diễn, cũng giống như họa sĩ phải có triển lãm và bán được tranh, thì mình cũng phải biết khán giả thích gì. Vì vậy, ta phải giữ một tỷ lệ hợp lý trong phân bổ chương trình. Nếu chỉ biểu diễn những bài như vậy thôi thì có khả năng chỉ có khán giả Việt Nam đón nhận, còn khi biểu diễn quốc tế, người tổ chức sẽ có yêu cầu khác. Chúng ta muốn làm là một chuyện, nhưng yếu tố lợi nhuận đi kèm mà người tổ chức tính đến lại là chuyện khác, nên cũng phải thông cảm với sự thương mại hóa thôi.
Hiện tại, tôi cùng nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc có một mối quan hệ thân tình gần gũi. Anh Phúc hơn tôi 5 tuổi, cũng coi như là cùng thế hệ xuất thân từ trường âm nhạc Việt Nam, cùng đi sơ tán, cùng học, cùng hướng phát triển, nên rất hiểu nhau. Chúng tôi đang ấp ủ cùng nhau ra mắt nhiều sản phẩm hơn nữa.
Tôi từng đọc được một ý kiến rằng: “Điều cơ bản như hát quan họ lẽ ra không sử dụng nhạc đệm, thì phần lớn người nghe nhạc không ai biết, mà khắp nơi sử dụng băng nhạc xập xình hát quan họ, như thế là không đúng”. Nhìn rộng ra, ông có nghĩ rằng việc kết hợp hiện nay giữa nhạc truyền thống, nhạc cổ điển với các xu hướng nhạc hiện đại như EDM, R&B hay pop là hướng đi duy nhất để giữ cho chúng được “sống”?
Theo tôi, có hai loại. Một loại là nếu ai muốn nghe một cách rất truyền thống, thì giống như việc chúng ta đến bảo tàng để chiêm ngưỡng tranh gốc. Nhưng song song với đó, chúng ta cũng cần những điều sáng tạo hơn. Chúng ta cần sự tồn tại của những điều gốc rễ, nhưng cũng không thể chỉ có một thể loại truyền thống, nguyên bản như vậy được.
Còn đối với việc kết hợp nhạc dân tộc, nhạc cổ điển với các xu hướng âm nhạc hiện tại, thì hoan hô! Hoan Hô! Hoan hô! (cười lớn). Tôi rất hoan nghênh sự sáng tạo này. Đó là quyền sáng tạo của người sáng tác và quyền chấp nhận của người nghe. Chúng ta càng có nhiều sự sáng tạo và sử dụng được tất cả những gì của thời đại thì càng tốt.


Theo ông, chúng ta có cần phổ biến các hình thức âm nhạc khác như âm nhạc đương đại, âm nhạc dân tộc và nhạc cổ điển bên cạnh nhạc pop từ Việt Nam, Hàn Quốc hay Âu Mỹ trên các kênh truyền thông chính yếu để nâng cao kiến thức âm nhạc của đại chúng?
Về việc phổ biến âm nhạc thì nên để những người có tư cách lãnh đạo âm nhạc quyết định. Còn tôi chỉ nói dưới lăng kính của một người nhạc sĩ, theo ý kiến cá nhân chứ hoàn toàn không có trách nhiệm gì cụ thể ở đây.
Vậy ông nhận định thế nào về nền âm nhạc cổ điển ở Việt Nam hiện tại?
Nhạc cổ điển ở Việt Nam có từ rất sớm so với các nước thuộc khu vực châu Á, ít nhất cũng hơn 100 năm, hình thành một truyền thống rất lâu đời. Tuy nhiên, có lẽ vì quá tự hào về truyền thống đó nên đôi khi chúng ta quên rằng người khác đã vượt xa mình. Bây giờ, tôi cảm thấy rằng ở Việt Nam có nhiều lĩnh vực đang phát triển rất nhanh, nhưng riêng nhạc cổ điển cần có tốc độ phát triển nhanh hơn, vì chúng ta đang đi thụt lùi so với nhiều nước trong khu vực.
Như người ta thường nói, chỉ khi con người có được sự đủ đầy về vật chất mới có thể chăm lo cho những thứ thuộc về tinh thần. Ngày nay, kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc hơn so với trước, số người giàu quan tâm và đầu tư vào nghệ thuật cũng không thiếu, nhưng vì sao Việt Nam vẫn chưa thể có được những nghệ sĩ piano danh tiếng thế giới như điều chúng ta đã làm được cách đây 30, 40 năm?
Câu hỏi này đúng một phần nhưng cũng không hẳn là đúng hoàn toàn. Lý do tôi nói vậy là vào năm ngoái, đúng là chúng ta chẳng có ai, nhưng năm nay lại có Khánh Nhi vừa đạt giải ba cuộc thi lớn ở Anh. Nhi học tại Hà Nội, sau đó du học ở Singapore, Áo và hiện nay đang theo học ở Mỹ. Trường hợp của Nhi cũng đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam, rằng nếu muốn thành đạt thì vẫn nên được đào tạo ở nước ngoài.
Hiện tại, Việt Nam thua kém một số nước trong khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông về trường phái piano. Vì số lượng các em đi học ở nước ngoài còn hạn chế nên thành tích của chúng ta cũng tiến triển khá chậm. Chúng ta có lịch sử lâu đời, truyền thống hoành tráng, tài năng cũng rất nhiều, nên tôi vẫn chưa rõ tại sao lại chậm như thế. Cũng có khả năng là do cơ chế.

Đã tạo được thành công rực rỡ trong và ngoài nước, hẳn ông cũng đang đào tạo một lứa nghệ sĩ trẻ piano để tiếp bước mình. Ông có thể nói qua đôi chút về điều này không?
Lúc đầu, tôi được nhận một chức vụ giáo sư ở Tokyo khi chưa đầy 30 tuổi, đến năm 1987 thì chính thức bắt đầu sự nghiệp sư phạm. Mọi thứ cứ thế tiến triển theo quy luật tự nhiên, đến nay cũng đã gần 40 năm. Khi biểu diễn, tiếng đàn của mình sẽ sâu hơn, nhưng về kỹ năng tay chân thì không thể bằng những người trẻ hơn, tầm 20-30 tuổi. Cũng giống như thể thao hoặc những gì cần đến thể lực, đến một lúc nào đó, tuổi tác sẽ khiến người ta chuyển sang làm huấn luyện viên. Trong âm nhạc cũng vậy.
Tháng 6 vừa qua, tôi cùng học trò của mình biểu diễn tại Việt Nam. Trong số các học trò xuất sắc của tôi, có Bruce Liu cùng với JJ Bui, đều là người Canada, đạt những giải thưởng cao. Một học trò khác cũng vừa đạt giải lớn ở Nhật Bản và Hàn Quốc cách đây một tuần. Như người ta nói, chúng ta không cần phải đánh bóng thương hiệu, mà hãy để chất lượng sản phẩm tự nói lên.
Được biết vào năm 2021, một học trò của ông đã giành chiến thắng tại cuộc thi Frédéric Chopin. Đây cũng là cuộc thi đầu tiên mà ông lập nên lịch sử khi là người châu Á đầu tiên giành chiến thắng cách đây 40 năm. Ông có thể nói thêm về điều này không?
Sự nghiệp của một dương cầm thủ hầu như hướng về các hoạt động biểu diễn, nhưng sư phạm cũng chiếm một vị trí rất quan trọng trong cuộc đời tôi. Tôi đã dạy hơn 30 năm rồi, và thành tựu của học trò đạt giải nhất tại cuộc thi Frédéric Chopin ở Ba Lan có thể được xem như đỉnh cao, một hiện tượng chưa từng xảy ra trong lịch sử của các cuộc thi lớn. Tôi đạt giải nhất, sau đó học trò của tôi cũng có thành tích tương tự. Giáo dục với tôi không chỉ là một hoạt động đơn thuần mà còn trở thành đam mê lớn.
Cuối cùng, ông có điều gì muốn nhắn nhủ với các nghệ sĩ piano hay những người đang học piano tại Việt Nam?
Ai học piano, tôi đều vỗ tay hoan hô dù với ý định gì đi nữa, vì đây vẫn là những kiến thức rất tốt cho bản thân. Ví dụ, sau này bạn có thể đi nghe nhạc và cảm nhận được cái hay cái dở. Nếu đi theo con đường chuyên nghiệp, bạn phải đặt câu hỏi liệu mình có đủ yêu âm nhạc, đủ say mê, và đủ hy sinh để bước chân vào sự nghiệp này không. Âm nhạc sẽ mang lại niềm vui, nhưng bạn cũng phải hy sinh rất nhiều. Ai chịu được hy sinh vì âm nhạc thì có thể theo đuổi sự nghiệp này.
Bài viết được đăng tải trên từ ấn phẩm in Tatler Vietnam số tháng 1/2024
ĐỌC THÊM:
[Cover Story] Một bản thể độc nhất của H’Hen Niê
[Cover Story] Li Na - Hành trình vinh quang của một ngôi sao quần vợt
Chủ tịch Sotheby’s Châu Á tiết lộ chiến lược bứt phá doanh số với tác phẩm nghệ thuật
Credits
Creative Direction: Tuan Anh Le
Photography: Tuan Anh Le
Producer: Sag Day
Styling: Luong Thu Lan
Stylist's Assistant: Linh Khánh Vũ, Thu Phương
Make-Up: Bobi Nguyen
Hair: Ngọc Phạm
Videography: Hieu GB
Set Design: Cong Cong
Lighting: ABCD Studio
Location: ABCD Studio
Outfit: Dior Homme, Piaget




