Thưởng lãm 8 bức tranh nghệ thuật nổi tiếng dưới đây, cũng là 8 lần thế giới thay đổi nhờ vào nghệ thuật
Vượt qua mọi khuôn khổ, nghệ thuật không đơn thuần chỉ là đối tượng hay ý niệm, mà còn là công cụ để thay đổi thế giới. Không ít lần, bằng sự tài hoa của mình, người nghệ sĩ đã thành công làm công chúng muối mặt khi trông thấy sự xấu xí của xã hội và động viên con người thay đổi.
Từ những bức tranh châm biếm sâu cay đến những tác phẩm đầy cảm hứng, nghệ thuật đã và đang tiếp tục thách thức, lay động và định hình lại cách chúng ta nhìn nhận thế giới xung quanh. Sau đây là 8 lần thế giới đã thay đổi nhờ vào nghệ thuật, 8 lần những kiệt tác hội họa đã khiến giới nghệ thuật chao đảo và để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử nhân loại.
Đọc thêm: Nghệ thuật như là ý niệm
Mona Lisa, 1503, Leonardo Da Vinci

Above Bức tranh “Nàng Mona Lisa” của Leonardo da Vinci vào năm 1503 là một trong những bức họa có sức ảnh hưởng lớn nhất thế giới (Ảnh: Getty Images / Beijing Youth Daily)
Ở vị trí đầu tiên chắc chắn là bức Mona Lisa, bởi bức họa được xem là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật. Điều khiến bức Mona Lisa trở nên nổi tiếng không phải chỉ vì ánh mắt diễm tình và nụ cười bí ẩn của nàng. Tư thế của nàng Mona Lisa trong tranh không hề “đúng chuẩn mực” đối với xã hội thế kỷ XVI. Ngoài ra, ông còn sử dụng tỉ lệ ¾ thay vì lấy toàn thân khi vẽ chân dung và sử dụng một phông nền là cảnh tượng giả.
Song, Leonardo Da Vinci đã tạo nên cuộc cách mạng trong nghệ thuật với một tác phẩm mà cho đến giờ vẫn chưa thể hiểu một cách thấu đáo được.
Đọc thêm: Home tour: Đối thoại với nghệ thuật trong ngôi nhà ở Connecticut
Judith Beheading Holofernes, 1620, Artemisia Gentileschi

Above Bức tranh “Judith Beheading Holofernes” (Ảnh: Getty Images / ERIC CABANIS)
Phiên bản Judith chặt đầu Holofernes của nữ họa sĩ Artemisia Gentileschi là bức tranh bạo lực và đẫm máu nhất trong số những bức nói về đề tài này. Phiên bản của Gentileschi mô tả Judith và người hầu đồng tâm hiệp lực ghì chặt Holofernes để lấy thủ cấp của hắn bằng một sức mạnh thể chất và ý chí phi thường.
Phiên bản của Gentileschi không khác gì một tuyên ngôn nữ quyền mạnh mẽ, nhất là trong một xã hội đầy bất công cho phụ nữ lúc bấy giờ. Nếu như nàng Judith của Caravaggio tỏ ra dè chừng, khiên cưỡng khi ra tay, thì nàng Judith của Gentileschi lại không chút khoan nhượng. Không chỉ ghì đầu Holofernes xuống, nàng còn chống một chân lên giường và kề lưỡi gươm chặt đầu viên tướng. Đây chính là một tư thế của nữ anh hùng chinh phạt cái xấu.
Đọc thêm: Tranh luận: Có nên kiểm duyệt nếu một tác phẩm nghệ thuật bị xem là xúc phạm hoặc gây tranh cãi?
Le Déjeuner sur l’Herbe, 1863, Édouard Manet
Một bức tranh gây tranh cãi vì chủ đề và vì kỹ thuật vẽ. Trong bức Le Déjeuner sur l’Herbe, Manet khắc họa một bữa trưa ngoài trời giữa hai người đàn ông ăn vận chỉn chu và một người phụ nữ khỏa thân; khuất đằng xa có một người phụ nữ đang hái hoa. Bằng cách đặt người phụ nữ khỏa thân đối lập với sự chỉnh tề của hai người đàn ông và hình ảnh người phụ nữ cổ điển đằng xa, Manet đã cố gắng diễn giải ý niệm về những nữ thần trong thần thoại thường gắn liền với hình ảnh khỏa thân. Về mặt phong cách, Manet cũng được coi là gây sốc, vì ông đã tạo ra sự tương phản táo bạo hơn giữa các mảng sáng và tối.
Bức tranh này sau đó đã bị Salon Paris từ chối vào năm 1863, và thay vào đó được trưng bày tại Salon des Refusés, nơi nó đã gây ra sự chấn động cho giới nghệ thuật. Tuy vậy, việc Manet từ chối tuân theo các phương pháp truyền thống trong Le Dejeuner sur l’Herbe thường được coi là điểm khởi đầu cho nghệ thuật hiện đại.
The Scream, 1893, Edvard Munch

Above Bức tranh “The Scream” (Ảnh: Getty Images / TERJE PEDERSEN)
Nghệ sĩ trường phái biểu hiện người Na Uy Edvard Munch đã vẽ bức tranh Scream vào năm 1893 và đây được coi là một trong những biểu tượng của nghệ thuật hiện đại. Có lẽ, trừ Mona Lisa, không bức tranh nào được đem ra phân tích, diễn giải, sáng tạo lại hay tham chiếu nhiều như bức The Scream cả.
Chủ đề của bức tranh rất mơ hồ và vô định, cả về mặt thị giác lẫn ý nghĩa. Bức tranh được cho là bắt nguồn từ những cảm xúc và suy nghĩ sâu kín nhất của Edvard Munch. Chủ thể chính trong tranh là một nhân vật không thể xác định giới tính với biểu cảm điên loạn vì lo lắng và nỗi đau khổ. Nếu để ý, bạn sẽ thấy nhân vật này không thực sự hét lên, mà là bịt tai khỏi tiếng hét đang vang vọng bên ngoài. Nhiều học giả cho rằng bức tranh là sự giãi bày của Munch về chứng rối loạn tâm thần của mình, về sự khiếp hãi của ông đối với thế gian.
Dẫu có diễn giải ra sao đi nữa thì The Scream vẫn là một tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa biểu hiện.
Fountain, 1917, Marcel Duchamp

Above Tác phẩm “Fountain” (Ảnh: Getty Images / Christina Koci Hernandez / San Francisco Chronicle)
Có thể nói là tác phẩm nghệ thuật gây tranh cãi nhất của thế kỷ XX, Fountain không phải tranh hay tác phẩm điêu khắc, mà là một vật sẵn có (ready-made object), một vật dụng hàng ngày được biến thành tác phẩm nghệ thuật vì nghệ sĩ quyết định đó là nghệ thuật.
Năm 1917, Marcel Duchamp đã nộp một cái bồn tiểu cho Hội Nghệ sĩ Độc lập mới thành lập. Hội đã từ chối tác phẩm của Duchamp với lý do rằng nó không thể được coi là tác phẩm nghệ thuật. Song, Fountain của Duchamp đã khơi dậy vô số câu hỏi quan trọng về bản chất của nghệ thuật là gì, thị giác hay tư duy mới là đối tượng chính của nghệ thuật, ai có thẩm quyền để thẩm định nghệ thuật,... những câu hỏi đó đã giúp đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại sau này.
The Treachery Of Images, 1929, René Magritte

Above Tác phẩm “The Treachery Of Images” (Ảnh: Getty Images / Hannelore Foerster)
Sự phản bội của hình ảnh, chính là tiêu đề lẫn chủ đề cho bức tranh về một cái-tẩu-nhưng-không-phải-cái-tẩu của họa sĩ siêu thực người Bỉ René Magritte. Bức The Treachery Of Images chỉ ra sự bất cập giữa danh xưng và bản chất sự vật, ám chỉ sự thất bại của chủ nghĩa duy danh trong việc định danh tính sự vật. Bởi lẽ, tồn tại giữa danh và vật là hệ thống những quy ước văn hóa, ký hiệu và biểu tượng phức tạp. Để hiểu được bản chất của vật, Magritte cho rằng cần phải vượt qua được hàng rào định danh đó, bởi vì sau cùng, đó vẫn chỉ là một bức tranh về cái tẩu, chứ chẳng có cái tẩu thật nào cả.
Blue Poles hay Number 11, 1952, Jackson Pollock

Above Bức tranh “Blue Poles hay Number 11” (Ảnh: Getty Images / Carl Court)
Họa sĩ theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng Jackson Pollock nổi tiếng nhất với những vệt sơn bắn trên những tấm vải khổ lớn được đặt dưới sàn nhà. Bức tranh tưởng chừng như tùy hứng này lại là cú sốc lớn đối với hội họa Mỹ.
Thất vọng với nhân sinh sau Thế Chiến II, Pollock bắt đầu miêu tả sự phi lý của tình trạng con người hiện đại thông qua nghệ thuật biểu hiện trừu tượng, một trào lưu tiếp nối của chủ nghĩa siêu thực. Ông bắt đầu thực hành theo cái gọi là hội họa hành động, tức dùng hành động một cách không chủ đích để ghi lại xúc cảm vô thức lên tranh. Pollock đi xa hơn chủ nghĩa siêu thực khi triệt tiêu hoàn toàn bóng dáng của những liên tưởng tự do dựa trên thế giới thật mà thay vào đó, để vô thức toàn quyền quyết định. Có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Blue Poles, hay còn được biết đến với cái tên Number 11, 1952 cho thấy rõ lối tiếp cận này.
Phong cách hội họa cấp tiến của Pollock ban đầu đã gây sốc cho mọi người, nhưng sớm được văn hóa đại chúng tiếp thu và trở thành hiện tượng.
Campbell’s Soup Cans, 1962, Andy Warhol

Above Tác phẩm “Campbell’s Soup Cans” (Ảnh: Getty Images / Sion Touhig)
Andy Warhol là kẻ tiên phong trong nghệ thuật đại chúng, cũng đồng thời là nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất thời bấy giờ. Tác phẩm của ông là một sự phối trộn theo kiểu bình dân giữa biểu đạt nghệ thuật, văn hóa đại chúng, sản xuất hàng loạt và chủ nghĩa tiêu thụ.
Chủ thể trong nghệ thuật của Warhol đa phần là những vật dụng hết sức bình dân như chai coca, tấm poster, hộp súp, trái chuối, hamburger với tương cà,... Bức tranh lụa Hộp súp Campbell được triển lãm ở LA năm 1962 gây xôn xao dư luận khi thu về nhiều ý kiến trái chiều – một số thấy thích thú, trong khi số khác lại bác bỏ và tỏ ra khinh thường.
Dẫu người ta không thể hiểu được mục đích hay ý nghĩa nào đằng sau những sản phẩm công nghiệp mà Warhol chọn làm tác phẩm, nhưng nghệ thuật của ông vẫn thu hút vì thổi được làn gió mới giữa thời buổi ai nấy cũng đều chán ngấy những thứ trừu tượng, không có gì để bám víu của chủ nghĩa siêu thực, biểu hiện trừu tượng hay ý niệm. Chí ít, những đồ vặt hằng ngày của Warhol, dưới mực in công nghiệp và giấy lụa lại cho ra cảm giác thực tế và đời sống hơn hết thảy.




