Trước khi trở thành gương mặt tiên phong của AI, giáo dục và triathlon tại Việt Nam, GS. TS Dương Nguyên Vũ đã nhiều lần đi qua giai đoạn “Valley of the Shadow of Death” khi đối diện với sự cô đơn, bất lực và khoảng cách giữa tầm nhìn và thực tế
Là nhà khoa học, Phó Hiệu trưởng VinUni, đại sứ đầu tiên của Triathlon Việt Nam và một trong những người góp phần đặt nền móng cho cộng đồng ba môn phối hợp trong nước, GS.TS Dương Nguyên Vũ nhìn thể thao như một cách rèn luyện bản lĩnh để đi qua Valley of the Shadow of Death (Thung lũng của bóng đen tử thần) trong cuộc đời.
Với gần hai giờ trò chuyện, tôi nghĩ mình sẽ nghe nhiều về trí tuệ nhân tạo, giáo dục hay những chương trình đào tạo mà GS. Dương Nguyên Vũ đã dành hơn ba thập kỷ để theo đuổi. Tuy nhiên, ông gần như không nói về thành công. Thay vào đó, ông nhiều lần quay trở lại những giai đoạn mình cảm thấy bất lực, những quãng thời gian phải làm việc rất lâu trước khi nhìn thấy kết quả và những buổi đạp xe một mình lúc 4 giờ sáng.
Có lẽ đó cũng là điểm gặp nhau giữa hai thế giới tưởng như rất xa. Một bên là khoa học, nơi những ý tưởng đôi khi phải mất nhiều năm mới được thừa nhận. Bên kia là triathlon, nơi không có đường tắt nào dẫn đến vạch đích ngoài hàng nghìn giờ tập luyện lặp đi lặp lại. Ở cả hai hành trình ấy, thứ thực sự giữ con người tiếp tục bước đi là sự kiên trì.
Dậy sớm. Đi sớm. Đến sớm
Một ngày bình thường của ông bắt đầu như thế nào?
Trước đây, một ngày của tôi bắt đầu lúc 4 giờ sáng, bây giờ là 4 giờ 30. Tôi thức dậy, uống cà phê, khởi động, rồi khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ 30 bắt đầu buổi tập. Tùy từng ngày mà tôi sẽ đạp xe, chạy bộ hoặc xuống hồ bơi. Từ khi về Việt Nam thì tôi “lười” hơn một chút, thường khoảng 6 giờ mới bắt đầu. Tôi luôn bắt đầu ngày mới bằng việc tập luyện. Tôi nghĩ điều khó nhất là giữ được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Vì vậy, tôi có một nguyên tắc: việc tập luyện không được ảnh hưởng đến công việc.

Phần lớn thời gian trong tuần của ông hiện nay dành cho điều gì?
Công việc là nhiều nhất. Không chỉ dạy học, hiện nay tôi là Phó Hiệu trưởng Đại học VinUni. Công việc lớn nhất là dẫn dắt chương trình đào tạo 20.000 nhân tài về trí tuệ nhân tạo cho đất nước. Tôi phải điều phối nhiều bộ phận, từ học thuật, vận hành đến tuyển sinh. Bên cạnh đó là vận hành một trung tâm nghiên cứu AI với mục tiêu trở thành một trong những đơn vị hàng đầu thế giới.
Ngoài giảng dạy, tôi còn định hướng nghiên cứu, làm việc với các đối tác, phát triển các dự án và tìm kiếm những ý tưởng có khả năng tạo ra đổi mới thực sự.
Với khối lượng công việc khổng lồ như vậy, ông có bí quyết sắp xếp thời gian đặc biệt nào không?
Thật ra tôi không có bí quyết gì hết. Tôi chỉ xác định việc nào ưu tiên thì làm trước. Khi làm, tôi tập trung hoàn toàn vào việc đó.
IRONMAN giúp tôi rất nhiều ở điểm này. Môn thể thao này rèn cho tôi sự tập trung và kỷ luật. Khi làm việc, tôi cũng giữ tinh thần ấy. Vì vậy, nhìn từ bên ngoài có vẻ rất nhiều việc nhưng tôi vẫn có thể xử lý được.
Buổi chiều, nếu còn thời gian, tôi sẽ tập thêm một buổi nữa. Có những ngày tôi tập hai buổi.
Đọc thêm: Bản quyền thể thao: Cuộc chiến phía sau
Nỗi cô đơn của người tiên phong
Nhìn vào sự nghiệp, có thể thấy ông luôn là người đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực. Vì sao?
Có lẽ vì tôi được đào tạo, lớn lên và làm việc ở nước ngoài. Trong những môi trường đó, người ta luôn yêu cầu mình phải xác định tầm nhìn và định hướng cho một tổ chức hoặc một lĩnh vực. Tôi được huấn luyện để suy nghĩ theo cách đó. Nhưng khi về Việt Nam, thực tế nhiều lúc không giống như ở nước ngoài, nên tầm nhìn của mình thường đi sớm hơn.
Năm 2006, tôi đã đưa đổi mới sáng tạo vào chương trình đào tạo đại học. Tôi cũng đưa leadership và entrepreneurship vào giảng dạy từ năm 2006, khi nhiều người còn chưa biết innovation nên được hiểu hay dịch như thế nào.
Khi trở về Việt Nam năm 2010, tôi triển khai các chương trình đào tạo và định hướng phát triển theo hướng liên ngành ở bậc sau đại học. Thời điểm đó điều này rất khó, vì Việt Nam vẫn quen với cách đào tạo theo chuyên ngành, chưa thật sự hiểu mô hình liên ngành.
Nhiều chiến lược tôi xây dựng cho Viện John von Neumann đều đi trước khoảng 5–10 năm. Năm 2012, tôi bắt đầu nghĩ đến việc đưa data science vào đời sống. Đến năm 2014, tôi làm về data science và data analytics. Những gì ngày nay trở thành nền tảng của trí tuệ nhân tạo thì tôi đã theo đuổi từ hơn 15 năm trước.
Bản thân tôi đã học về AI từ hơn 30 năm trước, trong khi ở Việt Nam, chỉ khoảng vài năm gần đây người ta mới thực sự bắt đầu quan tâm đến AI.
Ông có thấy cô đơn trong hành trình đưa những điều rất mới về Việt Nam không?
Có chứ. May mắn là trong quá trình làm việc, tôi luôn có những người đồng hành hiểu được điều mình muốn làm. Nhưng vì đi hơi sớm nên nhiều lúc cũng rất cô đơn.
Nhưng sự cô đơn ấy chưa bao giờ là nỗi sợ lớn nhất. Trong giới khởi nghiệp có một thuật ngữ gọi là Valley of the Shadow of Death. Đó là giai đoạn người sáng lập cảm thấy mình bất lực và bất tài. Mình có một tầm nhìn rất rõ về việc mọi thứ nên diễn ra như thế nào, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Khoảng cách giữa tầm nhìn và thực tế khiến mình cảm thấy bản thân không đủ khả năng để biến điều đó thành hiện thực.
Tôi đã từng trải qua giai đoạn đó. Khi mới trở về Việt Nam, có những lúc tôi thật sự cảm thấy bất lực, bất tài và rất sợ. Cảm giác đó còn đáng sợ hơn cả sự cô đơn.

Điều gì giúp ông đi qua những giai đoạn như vậy?
Là sự kiên trì. Giống như IRONMAN vậy, chỉ cần không bỏ cuộc thì mọi chuyện sẽ dần thay đổi. Trong quá trình đó cũng sẽ có những người xuất hiện để hỗ trợ mình.
Thể thao giúp tôi hiểu rất rõ điều này. Ba môn phối hợp là môn thể thao của sự cô đơn. Tôi còn nhớ những ngày ở Singapore, 4 giờ sáng thức dậy đi đạp xe. Đường tối om, không có ai cả. Chỉ có một mình, chiếc xe và chính bản thân mình. Mỗi buổi tập đều là một lần đối diện với chính mình. Những buổi tập ấy giúp tôi nhận ra rằng, khi đủ kiên trì, mọi chuyện không tệ như mình từng nghĩ. Chỉ cần làm hết sức thì rồi mọi thứ cũng sẽ dần tìm được lời giải, từng bước một.
Là một trong những người tiên phong đưa ba môn phối hợp về Việt Nam, ông nhận thấy nó đã thay đổi như thế nào so với thời điểm ban đầu?
Khi tôi bắt đầu với cộng đồng triathlon, đặc biệt là VNTC, lúc đó chỉ có khoảng hai mươi mấy người. Bây giờ, cộng đồng đã có khoảng mười bảy ngàn người. Đó là điều tôi chưa từng tưởng tượng ra. Một giải ở Đà Nẵng khi đó chưa tới một nghìn người tham dự. Còn bây giờ, chỉ riêng áo VNTC đã xuất hiện vài trăm người trong một giải.
Ngày xưa, niềm tự hào về VNTC rất lớn, bây giờ những thế hệ tham gia đầu tiên cũng rơi rụng đi khá nhiều. Thế hệ mới thì không còn gắn bó với VNTC như thế hệ trước. Nhưng đó cũng là quy luật phát triển tự nhiên của một cộng đồng.
Tôi tự hào vì đã thay đổi được cuộc sống của rất nhiều học trò. Tôi cũng tự hào vì VNTC, vì đã góp phần xây dựng nên một cộng đồng ba môn phối hợp lớn ở Việt Nam.
Ông nhìn về tương lai của triathlon tại Việt Nam như thế nào?
Tôi thấy rất tích cực. Vào những năm 2011–2012, ngay cả cộng đồng chạy bộ cũng rất nhỏ, phải tìm đủ mọi cách để kéo mọi người tham gia. Bây giờ thì gần như tuần nào cũng có một giải marathon. Việt Nam đã hình thành một cộng đồng chạy bộ rất lớn. Tôi tin chính cộng đồng đó sẽ tiếp tục tạo ra thêm nhiều người đến với ba môn phối hợp.
Không bao giờ thấy tiếc nuối
Cho đến bây giờ, sau tất cả những điều ông đã làm, ông cảm thấy hài lòng nhất về điều gì?
Có nhiều điều khiến tôi hài lòng. Đầu tiên là giáo dục. Điều hạnh phúc nhất là mình có thể thay đổi cuộc sống của rất nhiều học trò, giúp họ có những cơ hội tốt hơn. Chương trình tiên tiến về Khoa học Máy tính của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên mà tôi cùng xây dựng đã đào tạo được rất nhiều nhân tài, không chỉ cho Việt Nam mà còn cho thế giới.
Tôi cũng rất tự hào về VNTC. Những ngày đầu rất khó. Buổi sáng tôi phải dậy sớm chuẩn bị cho mọi người. Khi tổ chức bricks thì tiếp nước, giữ xe đạp, làm đủ mọi việc. Chính những việc rất nhỏ đó đã góp phần xây dựng cộng đồng từ những ngày đầu. VNTC cũng là đơn vị đầu tiên làm việc với Sala city tại Việt Nam. Pocari là một trong những nhà tài trợ đầu tiên đồng hành cùng VNTC. Khi nhìn lại chặng đường ấy, tôi vẫn cảm thấy rất tự hào.

Ngoài công việc và thể thao, ông còn dành mối quan tâm lớn cho điều gì khác không?
Tôi thích nghe nhạc và đọc sách. Tôi nghe đủ loại nhạc khác nhau. Hồi xưa tôi từng là DJ hip hop nên vẫn còn một tình cảm đặc biệt với hip hop. Ngoài ra tôi nghe jazz, deep house, rock và nhiều thể loại khác. Âm nhạc giúp tôi thư giãn. Còn sách thì tôi chủ yếu đọc truyện, chứ không phải sách làm giàu hay phát triển bản thân. Tôi đặc biệt thích tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc. Những bộ truyện này có rất nhiều nhân vật, nhiều tuyến truyện nên tình tiết rất hấp dẫn.
Kiểu như Đông Chu Liệt Quốc?
Đúng, nhưng là những phiên bản mới hơn. Vẫn là những câu chuyện như Đông Chu Liệt Quốc hay Tam Quốc, nhưng được kể lại theo những góc nhìn và cách triển khai khác.
Tôi thấy rất thú vị. Tôi đi máy bay khá nhiều. Mỗi khi có thời gian trên máy bay, tôi thường ngồi đọc truyện. Đọc truyện giúp mình thư giãn và cũng không còn thấy mệt mỏi vì những chuyến bay.
Có điều gì mà ông luôn cảm thấy mình thiếu thời gian cho nó không?
Có chứ. Mình đâu có đủ thời gian để làm hết mọi thứ. Ví dụ như tôi thích vẽ nhưng từ khi về Việt Nam, tôi không có thời gian để vẽ nữa.
Hồi xưa tôi từng học mỹ thuật. Cách đây mấy năm tôi có vẽ một series tên là Emotion of Triathlon. Tôi vẽ những cảm xúc, những đau đớn, những niềm vui của con người như niềm vui khi về đích... Phần trái tim, phần cảm xúc rất quan trọng trong đời sống của tôi.
Nhìn lại hành trình của mình, ông tiếc nuối về điều gì nhất?
Tôi không có gì phải tiếc nuối cả.
Thật ra hiếm có người nào có thể tự tin khẳng định như vậy.
Nếu ngày mai Chúa gọi hay Phật gọi gì đó thì tôi cũng hạnh phúc thôi. Tôi đã có tất cả những gì mình mong muốn nên không bao giờ cảm thấy thiếu gì cả.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam Vol.21
ĐỌC NGAY
Luật sư Céline Nhã Nguyễn: “Tôi mất 4 lần để chinh phục đỉnh núi cuối cùng trong Thất Đỉnh”
Cover Story: Gen.T - The Future Leaders: Một thế hệ đang định hình tương lai Việt Nam




