Với Đinh Đức Hoàng, một câu chuyện được tạo nên khi nhiều con người cùng bước ra khỏi vùng an toàn của mình, cùng tin vào những điều vượt lên trên lợi ích ngắn hạn
Là một người kể chuyện đi qua hơn hai thập niên biến động của báo chí, xuất bản và đời sống Việt Nam đương đại, anh từng nói mình lớn lên với niềm tin rằng những câu chuyện có thể thay đổi cuộc sống con người. Sau hơn hai mươi năm, có câu chuyện nào làm anh càng tin điều đó hơn?
Tôi muốn làm rõ trước khi chúng ta đi tiếp: Nếu chỉ dùng từ “câu chuyện”, chúng ta sẽ nghĩ rằng đó là một nỗ lực ngôn ngữ, rằng mình có thể khoác lên bất kỳ thứ gì một vỏ bọc ngôn từ đẹp, và nó sẽ trở nên có ý nghĩa. Một câu chuyện thực ra được tạo bởi hành động của một người, hay của rất nhiều người.
“Thành phố đáng sống nhất Việt Nam” là một câu chuyện được sáng tác, một nỗ lực làm thương hiệu; hay là hành động của hàng trăm nghìn người dân và các doanh nghiệp tại Đà Nẵng suốt từ giữa thập kỷ 2000? “Thác Tạt Nàng” ở Vân Hồ, Sơn La trở thành điểm du lịch ăn khách, là nhờ vào một truyền thuyết; hay là nỗ lực giữ truyền thuyết đó hàng thế kỷ thông qua các nghi thức của bà con - từ trước khi có cả ngành du lịch? Và khi một người khuyết tật được tôn vinh trên một sân khấu, câu chuyện của anh ta được tạo nên từ bao nhiêu nghìn ngày cơ cực, bao nhiêu vạn lần nuốt nước mắt vào trong?
Sau hai mươi năm, tôi đã may mắn được lắng nghe, và đôi lúc cùng lan toả vô số câu chuyện như thế. Nếu phải chọn một ví dụ đơn cử, tôi sẽ chọn câu chuyện của Thiện Nhân. Nhiều người Việt Nam biết câu chuyện đó. Năm 2006, một cậu bé khuyết tật bị bỏ rơi trong bụi chuối. Một người mẹ cố gắng chạy chữa cho đứa con trai mình nhận nuôi, lòng trắc ẩn của vô số con người tại Việt Nam và thế giới, sự xuất hiện của các bác sĩ với đôi tay vàng…
Sau vài năm, câu chuyện đó mở ra cả một chương trình phẫu thuật cho những đứa trẻ có cùng dị tật với Thiện Nhân. Trong gần 15 năm qua, hàng nghìn đứa trẻ đã được thăm khám và phẫu thuật – bởi vì chúng ta xúc động trước một câu chuyện, mà như tôi đã nói, vốn là nỗ lực phi thường của rất nhiều người trước đó.
Đọc thêm: Vì sao ai cũng thấy mình trong “The Devil Wears Prada 2”?

Above Tác giả Đinh Đức Hoàng
Trong nhiều năm qua, anh viết về những doanh nhân kiểu mới, những cộng đồng ít được cất tiếng nói, những biểu tượng văn hóa và những hành trình thăng trầm sau Đổi mới. Khi đặt những mảnh ghép ấy cạnh nhau, anh nghĩ chúng đang kể cho chúng ta câu chuyện gì về Việt Nam hôm nay?
Tôi không bao giờ dám nghĩ mình biết hết về Việt Nam hoặc có thể khái quát về đất nước này. Nhưng có một điều tôi luôn ngạc nhiên trong nền văn hoá Việt Nam hết lần này đến lần khác: bất chấp sự lên ngôi của nền kinh tế thị trường, bất chấp cái nghèo ám ảnh nhiều thế hệ, bất chấp tốc độ tăng trưởng, tôi vẫn bắt gặp rất nhiều người sống để hướng tới một cái đẹp vị nhân sinh.
Anh doanh nhân khăng khăng sử dụng nguyên liệu và nhân công bản địa (dù nguyên liệu nhập khẩu rẻ và tốt hơn); thầy hiệu trưởng miền cao kiên quyết đến từng nóc nhà (dù các em có bỏ học thì cũng chẳng ai trách được thầy); những học giả chỉ say mê truy tìm cái đẹp của tổ tiên, thờ ơ trước việc biến chúng thành tài sản trí tuệ (dù họ có thể khai thác các phát hiện của mình);… Cuộc tăng trưởng thần tốc trong 40 năm qua có chân dung của nhiều người như thế.
Tôi nghĩ điều đó xuất phát từ văn hoá. Ý niệm về đạo đức, về di sản của người Việt Nam, dù gọi thành lời hay không, cũng hướng tới cộng đồng nhiều hơn là cá nhân. Đến cuối cùng, dù thiết chế làng xã đã phai nhạt, không ai cấm anh xây biệt phủ giữa ngôi làng nghèo và trả lương tối thiểu cho hàng xóm, nhưng người Việt Nam vẫn sẽ xác lập đạo đức cá nhân thông qua mẫu số cộng đồng. Họ luôn biết sống vì người khác. Dù ở hoàn cảnh nào, dù tiếng gọi của thị trường có mạnh đến đâu và chủ nghĩa vật chất có xưng bá, người Việt Nam sẽ luôn tìm ra cách sống vì người khác. Điều này hàm chứa rất nhiều hy vọng về tương lai.
Bất chấp sự lên ngôi của nền kinh tế thị trường, bất chấp cái nghèo ám ảnh nhiều thế hệ, bất chấp tốc độ tăng trưởng, tôi vẫn bắt gặp rất nhiều người sống để hướng tới một cái đẹp vị nhân sinh.
Ở nhiều dự án của anh, phần quan trọng nhất dường như diễn ra trước khi công chúng nhìn thấy tác phẩm: tìm người, mở lời, thuyết phục, kết nối, kiên nhẫn chờ một ý tưởng thành hình. Công việc hậu trường ấy đã thay đổi cách anh hiểu về nghề kể chuyện như thế nào?
Ban đầu, tôi được nuôi dưỡng trong môi trường xuất bản truyền thống. Việc kể chuyện diễn ra theo một số phương pháp kinh viện, bằng lời, bằng hình ảnh, theo một số kết cấu đã định. Nhưng rồi mạng xã hội lên ngôi và bắt đầu khiến các nỗ lực này trở nên khó khăn hơn nhiều: các thuật toán không ưu tiên các câu chuyện dài, có cấu trúc, và đặc biệt là bằng văn bản nữa; sức chú ý của công chúng cũng không đủ cho điều đó nữa. Ngành xuất bản truyền thống gặp khó khăn đến tận hôm nay.
Nhưng tôi lại vẫn muốn kể các câu chuyện có thông điệp dài hơn, phức tạp hơn. Bạn đứng trước một người đàn ông Ca Dong, một dân tộc thiểu số sống trên dãy Ngọc Linh – anh ta vừa mất hết gia sản và cả đứa con gái trong một cơn lũ dữ - và bạn sẽ kể câu chuyện gì? Về một số phận gia đình đó? Lớn hơn, về số phận của một cộng đồng? Hay bạn muốn kể hết: về lịch sử, về biến cố, về cả nỗ lực tái thiết của họ, cũng như là kêu gọi xã hội chung tay với cộng đồng đó? Tôi nghĩ mình sẽ cố gắng làm hết. Nhưng bài báo dài quá thì độc giả không đọc hết.
Vậy là, tôi nghĩ, chúng ta sẽ cần nhiều định dạng kể chuyện. Tôi cần một chiến dịch, phải tư duy như một người quản lý dự án truyền thông, tư duy của một người sắp đi thi Cannes Lions chứ không phải là một nhà báo.
Năm đó, sau trận lũ trên núi Ngọc Linh, ngoài những bài viết, video, ảnh chụp, sự kiện gây quỹ,… (tức là cả một chiến dịch bài bản), tôi và đồng sự đặt làm 200 viên gạch. Chúng tôi tìm cách lấy đất sét từ chính ngôi làng của người Ca Dong đã bị xoá sổ, và nhờ các nghệ nhân Bát Tràng đúc 200 viên gạch có biểu tượng cánh chim bồ cây của Quỹ Hy vọng – đơn vị gây quỹ xây trường cho đồng bào.
Tôi viết một tấm thiệp đi kèm với mỗi viên gạch, nói rằng đất là thứ kết nối “chúng ta” (các nhà hảo tâm tại Hà Nội và những người Ca Dong sống trên núi), và đất cũng là thứ duy nhất mà cộng đồng đó còn để nuôi hy vọng, là thứ duy nhất họ có thể dùng để cảm ơn các bạn. Tất nhiên, chúng tôi hoàn thành mục tiêu gây quỹ. Nhưng tôi vẫn nhớ mình đã bắt gặp lại viên gạch đó, được bày rất trang trọng trong văn phòng của chủ tịch một tập đoàn – kiểu người sẽ có vô số cúp pha lê trong cuộc đời.
Tôi luôn tư duy về một câu chuyện từ tác động mình mong muốn tạo ra, sau đó mới đi ngược về định dạng, thông điệp, và cách sản xuất.
Tôi luôn tư duy về một câu chuyện từ tác động mình mong muốn tạo ra, sau đó mới đi ngược về định dạng, thông điệp, và cách sản xuất.
Điều gây ấn tượng với tôi là cách anh khiến rất nhiều người cùng bước vào một câu chuyện. Làm thế nào để một câu chuyện vẫn giữ được linh hồn của nó, ngay cả khi mỗi người đều muốn kể nó theo một cách khác?
Nếu bàn đến “linh hồn” của một câu chuyện, thì thực ra nó luôn nằm ở khán giả - cảm nhận của khán giả sau khi tiếp nhận nó như thế nào – chứ không phải bởi người kể, bởi nhân chứng, bởi chất liệu. Và nghĩ thế thì linh hồn này không đo đạc được, thậm chí tôi không nên nghĩ quá nhiều về nó.
Một dự án điển hình có nhiều bên tham gia của tôi là hồi Trung tâm thông tin UNESCO đúc con nghê đang canh cổng Văn Miếu. Văn hoá truyền thống và công nghệ tân tiến kết hợp. Tiến sĩ Trần Hậu Yên Thế từ Đại học Quốc gia Hà Nội phục dựng tượng nghê, viết một cuốn sách nhỏ về nghê. Chuyên gia Huy Nguyễn từ Silicon Valley trở về đưa cuốn sách đó vào một con chip. Các nghệ nhân đúc đồng Hà Nội tạo tác phiên bản nghê đồng.
Chip được gắn vào nghê đồng, và người sở hữu vừa có một tượng đồng đầy mỹ cảm từ Văn Miếu, vừa có thể quét tượng để đọc một cuốn sách bất kỳ lúc nào.
Tôi không biết ai sẽ sở hữu 200 bức tượng đó. Họ nghĩ gì? Họ chỉ yêu hình ảnh linh thú Việt Nam thôi? Họ đề cao việc học và muốn có một phần của Văn Miếu trong nhà? Hay họ thích thú với công nghệ đưa cuốn sách vào bức tượng? Hay là, họ chỉ muốn có một bức tượng đắt tiền để khoe giàu, khoe sang? Cũng có thể chứ.
Nhưng tóm lại, việc của tôi là làm cho hình ảnh đó sống tiếp trong đời sống đương đại. Nghê đã bị lãng quên: nó đứng trên cây cột cao 5m, hàng triệu người đã bước qua nhưng không thể ngắm nhìn nó. Nghê cứ sống tiếp đã, còn ý nghĩa cuối cùng của nó sẽ do công chúng quyết định chứ không phải tôi. Mọi câu chuyện đều như thế.
Nếu một ngày anh không còn đủ thời gian để theo đuổi tất cả những dự án mình muốn, chỉ còn được kể thêm một câu chuyện nữa thôi, anh sẽ dành nó cho ai?
Chắc là cho cộng đồng người Tày. Tôi là thành viên của một cộng đồng thiểu số với văn hoá truyền thống đồ sộ, nhưng tôi chưa bao giờ làm tròn nghĩa vụ với cộng đồng ấy – trong tư cách một người kể chuyện.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam Vol.22
CREDITS
Editor-in-Chief: Nikita Chu
Managing Editor: Hai Yen Ho
Head of Style: Nga H Nguyen
Art Director: Andy Trần
Photographer: Lê Lai (Chi Pu, Đỗ Hữu Hưng, Phạm Chí Nhu, Vũ Ngọc Anh Thư) , Kỳ Anh (Jonathan Việt Phạm, Phúc Nguyễn, Phan Huy), Trí Nguyễn (Khoa Vũ, Khoai Lang Thang, Zean Võ)
Stylist: Long Ngọc
Producer: Joanne Dao
Editors: Lang Minh, Khương Hà, Quyên Hoàng, Sovy Han
Junior Editors: Hồng An, Emily Kỳ (Ky Anh), Lana Nguyễn
Video Director: Viet Hoang
Videographer: Andrewng, Truong Dinh, Duc Anh, Vy Lê
Video Editor: Thiện Trung, Pham Gia Khanh, Vy Lê
Designer: Chau Duong, Dinh Gia Kiet, Anh Bui, Van Ly H
Retoucher: Nét Retouch
Social: Pham Gia Khanh
Makeup & Hair: Ngọc Li
Photo Assistant: Anh Nhựt, Lê Minh Quang
Gaffer/A.C: Hau Nguyen, Phuc
Stylist Assistant: Phúc Tín, Jayce, Minh Đức, Yến Nhi
Fashion: Gucci, Karl Lagerfeld, Calvin Klein, MoiDien
ĐỌC NGAY
Gen.T Leaders of Tomorrow lần đầu tiên ra mắt tại 10 quốc gia và vùng lãnh thổ khắp châu Á
Gặp gỡ 16 nhà lãnh đạo Gen.T Leaders of Tomorrow 2026 đến từ Việt Nam
Gen.T Leaders of Tomorrow 2026: Điều gì làm nên một nhà lãnh đạo tương lai?




