Những đường thêu, nét nhuộm uyển chuyển dưới mái Đình Tú Thị như một khung tranh vẽ lại những bản sắc Việt xa xưa được truyền thời đến nay
Một chuyến đi Hà Nội với nhiều sự kiện bất ngờ khiến tôi phải thay đổi hoàn toàn kế hoạch ban đầu, thế nhưng lại thành cơ duyên với một góc nhỏ ẩn khuất giữa bốn bề Đông Kinh nhộn nhịp. Chốn ấy là một mái đình có quy mô tuy khiêm tốn nhưng rất khang trang ấm cúng với cái tên rất lạ: Tú Thị, thờ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành (1606-1661), toạ lạc tại địa chỉ 2A ngõ Yên Thái, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm. Tôi biết đến ngôi đình này thông qua cô bạn là nghệ sĩ thực hành thêu Phạm Ngọc Trâm - một tiểu thư Hà Thành chính hiệu với niềm đam mê sâu sắc cho di sản thêu và kĩ thuật nhuộm màu tự nhiên truyền thống Việt Nam. Như ý trời sắp đặt, tuần tôi đến Hà Nội cũng là tuần chị Phạm Ngọc Trâm bắt đầu một chương trình thú vị ở đình, mang tên “TƠ ÓNG - MÀU CÂY, Đường Thêu Nét Nhuộm Xưa Nay” dưới dạng thức “Nghệ sĩ lưu trú - Artists in Residency” (bắt đầu từ 19/12/2024 đến 19/01/2025) - tiếp nối dự án “Chuyện đình trong phố” được khởi xướng bởi Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn.
Khác với mô hình tour tham quan các ngôi đình vốn vẫn lặng lẽ ngủ yên qua biến động thời cuộc trong phố cổ Hà Nội, chương trình “Nghệ sĩ lưu trú” có thể hiểu là chính quyền địa phương tạo điều kiện cho các nghệ sĩ đưa xưởng làm việc của mình vào một góc đình và bắt đầu sáng tác, như thổi một làn gió mới mẻ vào cái không gian tịch mịch xưa cũ. Mặc nhiên, một tú nương như Ngọc Trâm, không nơi nào khác phù hợp hơn ngôi đình “Chợ Thêu” này.
Lần giở sử liệu, đình Tú Thị nguyên thuộc thôn Yên Thái, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, được dựng nên vào năm 1891 bởi người dân làng thêu Quất Động (Thường Tín) khi họ chuyển về ngụ cư tại đất Kẻ Chợ. Sau nhiều đợt trùng tu trong suốt 134 năm tồn tại, ngôi đình đã có nhiều thay đổi so với nguyên bản, song vẫn giữ được sự gần gũi vốn có. Tháng 10 năm 2012, đình được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Tên chính thức của công trình được đắp trên tấm hoành phi trước cửa: “Tú Đình Thị” (繡亭市), dịch nôm na là “Chợ đình Thêu”. Đây là điểm nhấn làm ngôi đình trở nên đặc biệt hằn so với hệ thống đình, tự thuộc 36 phố phường.
Sở dĩ gọi là “Thị” bởi xưa kia việc trưng bày và mua bán các mặt hàng thêu ngay tiền sảnh mới là công năng chính của ngôi đình, còn Hậu cung phía sau đặt ngai thờ Tổ nghề được đóng kín và hạn chế tiếp cận. Trong khuôn khổ chương trình hiện tại, khu vực tiền sảnh (Đại đình) vừa là không gian cảm tác vừa là góc triển lãm lưu động các thành quả về nhuộm tơ tằm bằng cây lá và thư viện sách nghệ thuật thêu của chị Phạm Ngọc Trâm, được chị đích thân đưa về Hà Nội từ Hội An.
“Không gian Meo Meo Atelier mình tạo ra cũng là một phần thế giới riêng bên trong, mà nhân dịp này thì mình đưa ra cho mọi người xem và cảm nhận. Từng đồ nghề, từng bức tranh hay bức ảnh đều là một người bạn đồng hành, đều có câu chuyện riêng kể nên hành trình 10 năm của Meo Meo Atelier. Vì thế khi mở xưởng ở Đình Tú Thị, Trâm không thể thiếu “đồng đội” của mình và cũng là dịp để có thể chia sẻ, kể những câu chuyện sâu xa về hành trình theo đuổi nghiệp thêu với bạn yêu nghệ thuật".
Sau khi được đón chào bằng bữa chả cá no nê trong ngôi biệt thự Hoán Hoa phố Đường Thành, chị Phạm Ngọc Trâm đích thân dắt tôi về xưởng tham quan. Không khỏi bất ngờ, cả không gian đình phủ như một lăng kính vạn hoa, tô điểm bởi hàng chục “đon hoa” được xếp ngay ngắn đầy 3 chiếc bàn dài - những lọn tơ được chính chị lên công thức và nhuộm hoàn toàn thủ công tại Hội An, óng ánh thật nịnh mắt. Màu vàng ngọt lịm từ mật mông hoa (buddleja officinalis) hay hoàng đằng (fibraurea recisa), màu nâu và đỏ trầm ấm từ tô mộc(biancaea sappan) và thiến thảo (rubia tinctorum). Thậm chí từ cùng một nguyên liệu là hồng hoa (carthamus tinctorius) cũng có thể hô biến thành dãy nhuộm từ vàng đến đỏ rồi hồng. Đâu đó, len lỏi giữa những nốt ngọt ngào của đon hoa chúng tôi mua trên đường về là một mùi hương cỏ nội, mộc mạc và trìu mến.
Đọc thêm: Nghệ sĩ thị giác Yang Yang: Một chú kiến lính trong bảo tàng ký ức
Dựa vào những công trình nghiên cứu của các học giả tầm cỡ, bao gồm “Cây thuốc Việt Nam” của Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Ngọc Trâm đã gầy dựng nên tập hồ sơ nhuộm có một không hai từ chính những hoa thơm cỏ lá xung quanh nhà mình tại Hội An. Một bảng màu thể hiện sự phong phú, đa dạng sinh học của quốc gia. Nói không ngoa, có lẽ Ngọc Trâm là một trong những cá nhân tiên phong cho việc khoanh vùng nguyên liệu tại Việt Nam và “bản địa hoá” nghệ thuật nhuộm tự nhiên này.
Chậm rãi ngồi đối diện khung thêu, với tư cách là một nhà nghiên cứu vải vóc và phục trang xưa tại Việt Nam, tôi luôn khao khát muốn đào sâu về các kĩ thuật thêu của tiền nhân. Không ngoài mong đợi, chị Ngọc Trâm đã thể hiện rất tốt điều này. Bằng thời gian thực hành thêu gần 1 thập kỷ cùng lượng kiến thức đồ sộ thu hoạch được sau những chuyến điền dã dài ngày tại các làng thêu xứ Bắc, chị quyết định thêu lại bức “Lưỡng long hí châu” thuần tơ tằm theo lối Hà Nội - Bắc Ninh cổ truyền. Theo tú pháp này, thân của tứ linh (long, lân, quy, phụng) nếu cần tạo độ nổi khối thì đầu tiên gòn hoặc rơm tơi sẽ được định hình trên bề mặt vải. Sau đó, giấy hay dây rơm được se thành sợi và thắt ngang theo từng nấc đều nhau trên bộ khung gòn đó. Khi mọi thứ đã chắc chắn, toàn bộ bề mặt đồ án sẽ được thêu kín bằng tơ tằm se hoặc tơ bọc kim tuyến. Người làm nghề gọi là “độn gòn thắt thịt”, còn tôi gọi vui là “thắt đòn chả”. Muốn nắm bắt được kĩ nghệ này không chỉ đơn giản là ngồi ở làng nghề, mà chị kể rằng còn sưu tầm không ít các tấm thêu xưa nhưng đã hư hại theo thời gian với tuổi đời trên dưới 100 năm để chiêm nghiệm.
Việc này tạo điều kiện cho Trâm có thể nghiên cứu và phân tách từng lớp thêu mà không phải “chủ động” giải phẫu cổ vật. Nó giống như việc ta học thêm một ngoại ngữ, bạn phải học âm vị, cú pháp, ngữ âm, thì mới có thể trau dồi sâu xa với dân bản xứ, mà ở đây chính là những bậc lão nghệ nhân. Câu chuyện này cũng phần nào tương tự giai thoại ông Lê Công Hành được phong làm tổ nghề thêu nước Nam khi xưa. Tương truyền, ông vốn là quan triều Lê được cử đi sứ Trung Quốc rồi bị vua nhà Minh thử thách bắt nhốt ông trên cái lầu cao. Mấy ngày liền ăn uống qua loa không việc gì làm, ông đã hạ giải các tấm thêu và lọng trang trí trên lầu xuống mà tháo ra nghiền ngẫm, lần mò học cách chế tạo. Xong, ông liều lĩnh nghĩ ra chuyện dùng tấm lọng cản gió làm “đôi cánh” mà bay xuống đất bình an vô sự. Chi tiết này cũng chính là ý tưởng hình thành chương 54: “Sứ thần biết bay” của bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt một thời lẫy lừng. Sau sự kiện ấy, ông được vua quan nhà Minh nể phục rồi nhanh chóng về nước mà đem bí quyết thêu nổi và làm lọng Bắc Quốc dạy cho dân mình - chính là làng thêu Quất Động, truyền đời tới tận ngày nay.
Đọc thêm: Chủ tịch Sotheby’s Châu Á tiết lộ chiến lược bứt phá doanh số với tác phẩm nghệ thuật
Lại nói một chút về nghề thêu hiện đại, thợ nay chuộng thêu thứ tơ bọc kim tuyến, lấp lánh và dày, mật độ sợi khi gia công khá thấp, rất nhàn, thành phẩm lại rẻ. Dần dà qua năm tháng, lối thêu độn bằng chỉ tằm đã thất truyền. Phạm Ngọc Trâm là một trong số rất ít cá nhân dám khôi phục lối thêu độn gòn thắt thịt bằng tơ, mà lại còn tơ tằm nhuộm từ lá, rễ, vỏ cây, thậm chí là tự se bằng tay nữa. Đối với Trâm, mỗi ngày thêu tranh tại đình là một thời khắc thiêng liêng vô giá khi cô được sống với đam mê cuộc đời dưới chân Tổ nghề. Đối với tôi, đây cũng là một “đặc quyền” khi được chứng kiến và nghe người nghệ sĩ truyền đạt các kĩ nghệ thêu cổ bằng ngôn ngữ khúc chiết, dễ hiểu mà nếu không phải sống với nó thì khó mà diễn giải theo văn phong hiện đại được. Hai chị em như cá gặp nước, bàn về những đường kim mũi chỉ, về những tơ óng màu cây suốt hàng giờ liền. Vốn chỉ định nán lại đôi ba lần, nhưng từ lúc nào không hay, chuyến đi 2 tuần đã gắn liền với sự hiện hữu của ngôi đình Tú Thị.
Có người bạn tôi từng mở mặt bằng kinh doanh ngay đối diện đình, nhưng chưa bao giờ cô thấy nơi đây hé cửa. Ấy vậy mà từ khi Trâm đến, lần đầu tiên lượng khách ghé đình đông đến vậy, tới mức cụ thủ từ cũng không khỏi ngạc nhiên. Trái ngược với tưởng tượng về những bậc lão niên có phần lặng lẽ dưới mái đình cong cong, khách du lịch thích thú và tò mò vì sao lại có một cô gái trẻ, cắm cúi và thoăn thoắt đôi tay thêu trên màn khung lụa, uyển chuyển tựa hồ đang hoạ bức thuỷ mặc giữa cái lấp ló của những thức gỗ sơn son thếp vàng. Họ được đón chào và tận mục sở thị cách mà cô nghệ sĩ tái hiện kĩ thuật độn gòn, se giấy dướng, thêu lối đan rổ tạo vảy rồng đúng như ông cha Việt Nam ta đã từng 100 năm trước. Những nếp thân rồng uốn lượn, nổi khối đầy đặn và sống động như thể chực chờ lao ra khỏi tranh. Họ phần nào hiểu được vì sao mặt hàng thêu nước Nam đã từng một thời oanh tạc cơ man các triển lãm Thuộc địa, ngang nhiên cạnh tranh với các tú phẩm tinh xảo từ thủ phủ mĩ nghệ Quảng Châu - Trung Quốc.
Một chi tiết mà tôi tâm đắc không kém chính là cách mà Ngọc Trâm sẽ khai triển hai chú rồng: một được bám sát bảng màu và quy tắc tạo hình xưa, một được Ngọc Trâm tự do thêm thắt và phối màu dưới góc nhìn đương đại. Cái đam mê cháy bỏng cho di sản nghề thêu mà cô nghệ sĩ trẻ bộc lộ, như ném vào nốt trầm góc phố một bản phối khí tươi vui đầy màu sắc. Ngôi đình vốn lặng lẽ giữa dòng đời ngõ chợ, thậm chí còn chưa từng xuất hiện trên bản đồ điện tử nay đã lên sóng truyền hình và hàng loạt báo đài, ngày ngày chào đón những tiếng nói cười rôm rả như ánh dương xuân.

Sau khi tôi đến, các bạn tôi cũng thích thú và kéo tới chơi. Như một lực hấp dẫn vô hình, họ cũng thấy không gian đình thật gần gũi và “đón mời”, không như những gì từng nghĩ về hình thái đình làng xưa. Rồi một người ở lại, rồi hai, rồi ba, bốn, năm người. Chúng tôi quây quần tại khu Đại đình mà làm việc. Hoặc có những khi, chúng tôi diện Cổ phục mà ngân nga huyên náo một góc trời. Tôi nhận ra, ngôi đình trong văn hoá Việt vốn là một phần linh hồn không thể tách rời, nay chỉ còn tồn tại dưới giá trị tín ngưỡng và tâm linh, mờ nhạt giữa cuộc sống thường nhật. Chính những giây phút này, ngôi đình bỗng chốc được trở về với công năng vốn dĩ - nơi sinh hoạt và tề tựu của cộng đồng.
Báo đài kéo tới ngày một nhiều, khách tò mò ghé lại ngày một đông. Chương trình đã ươm một mầm hi vọng, viết tiếp câu chuyện mái đình ngõ phố. Sẽ thật hay, nếu chính quyền sở tại và thậm chí là chính quyền thành phố Hà Nội nhận ra tiềm năng này để kịp thời xây dựng các kế hoạch đầu tư bài bản, tạo điều kiện cho nhiều nghệ sĩ sáng tác trong những ngôi đình gắn liền với ngành nghề của họ, tạo ra không gian di sản mang hơi thở đương đại. Trong đó, sự uyển chuyển là cấp thiết. Chẳng hạn đình Chợ Thêu không nhất thiết phải thêu thuần tuý, mà có thể bao hàm các loại hình nghệ thuật liên quan tới thêu và vải vóc, hoặc lấy cảm hứng từ thêu. Chúng có thể là dệt lụa, may đo, vẽ trên mặt hàng thời trang như áo quần, túi xách, thậm chí là giày. Không những tôn vinh văn hoá uống nước nhớ nguồn và tục thờ Tổ nghề của dân tộc, đây cũng là cơ hội để khai phóng một nguồn lực mới lạ: du lịch tâm linh kết hợp nghệ thuật, giữ gìn song song nuôi dưỡng bản sắc Việt. Ta đưa quá khứ về hiện tại, nhưng cũng từ quá khứ ta viết tiếp tương lai.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam số tháng 01/2025
ĐỌC THÊM:
‘Bùi Tiến Tuấn - Một hành trình’ thổi hơi thở thời đại vào ‘lụa’
Credits
Photography: La Quốc Bảo



