Hôn lễ của cộng đồng Peranakan tựa bức tranh thêu sống động, nơi sắc màu và nghi lễ hòa quyện tạo nên giai điệu di sản lộng lẫy. Trong 12 ngày khánh hỷ, từng chi tiết áo cưới như câu thơ dệt từ chỉ vàng, kể lại câu chuyện giao hòa văn hóa giữa hai miền đất lạ Trung Hoa và Nam Dương
Peranakan, hay còn gọi là Baba Nyonya, là cộng đồng hậu duệ của những nam nhân từ Trung Hoa đại lục đã vượt ngàn hải lý đến định cư tại vùng đất Nam Dương từ đầu thế kỷ 15. Tại đây, họ kết hôn với phụ nữ bản địa, tạo nên một nền văn hóa dung hợp đặc sắc, là sự giao thoa giữa hai luồng di sản Trung Hoa và Đông Nam Á. Phần lớn người Peranakan có tổ tiên từ Phúc Kiến (Hokkien) và Triều Châu (Teochew), số ít là người Quảng Đông (Cantonese) và Khách Gia (Hakka). Vì vậy, cốt lõi trong thực hành tín ngưỡng của họ đều phát triển lên từ văn hóa Mân Nam, và nghiễm nhiên chiếm ưu thế nhất vẫn là Phúc Kiến. Với sự bùng nổ của giao thương và cơ hội kinh tế mở ra trong khu vực, các gia tộc Peranakan đã trở thành những nhà tài phiệt bậc nhất, không ngại chi tiêu để biến hôn lễ thành sự kiện vượt xa khái niệm lễ nghi. Trong không gian khánh hỷ kéo dài 12 ngày giữa những lụa là lọng tán, bàn tiệc xa hoa và tiếng nhạc ngân vang, sự lộng lẫy của từng chi tiết – từ trang phục đến nghi thức, những chiếc áo cưới ấy không đơn thuần là vật phẩm, mà là tuyên ngôn của quyền lực và phú quý, khẳng định vị thế dòng họ giữa xã hội.
Kim y ngọc thực - Hôn lễ xa hoa 12 ngày

Above Tân nương Su Zian và tân lang Yu Yang – hậu duệ một dòng tộc Peranakan tại Malacca trong tấm hỷ bào gia truyền qua 4 thế hệ. Hôn lễ được cử hành dưới sự chỉ dẫn của chuyên gia Baba Cendric Tan (Ảnh: do La Quốc Bảo cung cấp)
Một hôn lễ truyền thống Peranakan được cử hành trong 12 ngày liên tiếp. Tùy vào từng địa phương mà các trang phục, nghi lễ có sự điều chỉnh. Đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa thể thống kê được sự đa dạng của từng khu vực vì vùng Nam Dương quá rộng lớn, trải dài từ Sulawesi, Indonesia đến Yangon, Myanmar. Ở mỗi điểm dừng, người Peranaka lại thích nghi và khéo léo lồng ghép yếu tố bản địa vào cuộc sống, tạo nên một bản đồ di sản tương liên đa sắc như kính vạn hoa. Hiện tại, chỉ có Malacca là còn bảo lưu và ghi chép đầy đủ nhất về phong tục cưới hỏi, cũng như bảo tồn được hoàn chỉnh nhất không chỉ trang phục mà còn các phẩm vật liên quan như trướng thêu, lọng diễu hành rước dâu, lồng đèn cưới, v.v.... dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia văn hóa như Baba Cedric Tan, Baba Norman Cho, v.v.

Giống với nguồn gốc tổ tiên, tên gọi cùng cách cử hành nghi thức Peranakan cũng là pha trộn giữa tinh hoa tín ngưỡng của văn hóa Malaysia, Indonesia và Nho giáo Á Đông. Ngôn ngữ hình thành từ sự giao thoa này gọi là Baba Malay – được xem là thanh âm bản sắc của người Peranakan. Chẳng hạn, bữa ăn đầu tiên của đôi tân lang tân nương gọi là lễ Makan Chun Tok, với Makan là “ăn” trong tiếng Malay, và Chun Took là cách phát âm từ “xuân trác 春桌”, nghĩa là “chiếc bàn xuân” theo phương ngữ Phúc Kiến.
Trong hôn lễ Peranakan, hỷ bào của các Nyonya (cách gọi phụ nữ Peranakan) được gọi là Baju koon, với phần baju (tiếng Malay nghĩa là áo), còn koon là cách phát âm Phúc Kiến của “quần 裙”, nghĩa là “xiêm” – chính là dạng thức xiêm “mã diện 馬 面” rất phổ biến của phụ nữ Hán tộc tại Trung Quốc. Baju koon là lễ phục kiều diễm và trang trọng nhất, được vận trong ngày thứ nhất, tức ngày Đại hôn, khi tân nương cử hành các nghi lễ phức tạp như: Lễ tiến phòng (Chim Pang 進房 – vén mạng che mặt cô dâu) và lễ Rót trà (Tuang Teh / Tuang 茶 – dâng lên các bậc sinh thành).

Ngoài ra, tân nương còn được chuẩn bị một bộ trang phục kiêu sa khác nhưng được thiết kế hẹp tay để thuận tiện tham gia các hoạt động chung vui hai họ, gọi là Baju Hock Chiew, với Hock Chiew được hiểu là “Phúc Châu 福州”. Bộ áo này sẽ đồng hành cùng cô dâu vào các sự kiện sau ngày Đại hôn như lễ Sohjah Tiga Hari (tương tự lễ Gia tiên của Việt Nam) của ngày thứ 3 hay Tiệc rượu (Chia Sia) của ngày thứ 5, v..v Đối với tân lang, hỷ bào có phần đa dạng kiểu cách nhưng 2 dạng phổ biến nhất ở khu vực Nam Dương là:
- Tng sah beh kua (cách phát âm Phúc Kiến của “trường sam mã quái 長衫馬褂”) bao gồm: một áo bào dài chấm mắt cá, phủ ngoài một áo cộc tay tương phản màu. Trên áo tân lang thường thêu sóng nước, cá vàng, hoa sen hoặc các loài quý điểu bằng sợi kim tuyến.
- Bổ phục 補服: bên trong là mãng bào theo lối Mãn Châu cùng tay áo móng ngựa, bên ngoài phủ bổ quái – dạng áo khoác xẻ giữa, trước ngực và sau lưng đính bổ tử thể hiện phẩm hàm. Lưu ý rằng, đây thường là các chức quan được ban hoặc “mua” từ nhà Thanh để củng cố uy tín tại địa phương chứ không hề liên quan trực tiếp đến hàng ngũ quan lại chính quy trong cung đình.
Cẩm hải phụng bằng - Gấm vóc báo hỷ vượt Nam Dương

Above Hỷ bào của phù dâu trong đám cưới Peranakan Singapore- Malacca, BST La Quốc Bảo; cô dâu mặc trang phục Baju Hock Chiew, tay đeo bimpo kemanten duyên dáng; bimpo kemanten; vân kiên cho cô dâu Singapore-Malacca với dây bùa bát quái sau lưng
Gần như toàn bộ hỷ bào trong hôn lễ Peranakan đều được thiết kế riêng và gửi về từ Trung Quốc. Nhờ thương nghiệp mở rộng và mạng lưới ngoại giao dày đặc, các gia tộc dễ dàng kết nối với những xưởng thêu trứ danh. Phong cách đồ thêu của từng khu vực cũng phản ánh mối giao thương của người Baba Nyonya với Trung Hoa đại lục. Các làng thêu tại Chương Châu của Phúc Kiến thường làm đồ cho Singapore và Malacca. Làng thêu Quảng Châu với lối bắt kim tuyến ấn tượng được săn đón tại Penang. Hạ Môn, cũng thuộc Phúc Kiến, thường được tin dùng bởi các gia tộc ở mạn Indonesia.
Trong khi đó Triều Châu lại có thể mạnh về các dạng thức tú phẩm trang trí. Có thể thấy, phần lớn Hỷ bào của văn hóa Peranakan đều thấm đẫm mỹ học miền Nam Trung Hoa. Trớ trêu thay, các lối thêu này lại mờ nhạt một cách kỳ lạ theo dòng xoáy lịch sử tại chính mẫu quốc, biến Peranakan trở thành một kho di sản sống quý giá cách xa hàng vạn hải lí.
Phần lớn Hỷ bào của văn hóa Peranakan đều thấm đẫm mỹ học miền Nam Trung Hoa. Trớ trêu thay, nó lại mờ nhạt một cách kỳ lạ tại chính mẫu quốc
Như bao khu vực nhiệt đới ẩm khác, đồ thêu trước thế kỷ 19 hầu như đã hoại mục hoàn toàn không thể khảo cứu, ta chỉ có thể bắt đầu từ khoảng 150 năm trước đổ lại mà thôi. Y phục trong hôn lễ của Singapore-Malacca được xem là có độ hệ thống hóa cao và ổn định nhất trong suốt tiến trình phát triển. Đồ thêu Penang có sự phá cách thẩm mỹ rất “đương đại” với ứng dụng các họa tiết hình học, đồ án cỡ lớn thay vì sự uyển chuyển và có phần “thẹn thùng” trong tạo hình truyền thống.
Ngược lại, hỷ bào Indonesia vẫn phần nào giữ được tinh thần nguyên bản, như việc tân lang tân nương vẫn ưa chuộng hỷ bào sao chép theo kiểu dáng lễ phục của quan lại và mệnh phụ người Hán thời nhà Thanh, Trung Quốc.
Đọc thêm: Nữ tiến sĩ hậu duệ vua Hàm Nghi và nỗ lực đưa di sản hội họa của ngài về Điện Kiến Trung
Hỷ bào Sungapore-Malacca

Above Vân kiên
Trong ngày đầu tiên của lễ cưới, tân lang thường diện tng sah beh kua (trường sam mã quái), thông dụng nhất là các phối màu: xanh da trờixanh chàm, tím-xanh cyan, đỏ-xanh cyan. Đầu tân lang đội mão đen đính khuya vàng khảm kim cương, tay cầm quạt xòe.
Tân nương diện bộ trang phục baju koon, với phần baju (áo) được may theo kiểu cách thời Thanh trung kỳ của phụ nữ người Hán. Phổ biến nhất là các màu đỏ thắm, cam, hồng magenta, hiếm gặp nhất là màu ngọc lam, tím và vàng mỡ gà. Phần viền cổ chạy theo hình chữ quảng 广, cũng như viền gấu và hông áo đều được thêu thùa tinh nhã các đồ án bát bửu, thời hoa, chim chóc theo bố cục lặp. Tay áo được đáp thêm viền, dao động từ 1 lên tới 5 dải khác màu nhưng vẫn cùng một dạng trang trí. Có áo được may thêm các dải viền ẩn ở mặt trong, mục đích là khi hành lễ muốn rút bớt độ dài, hình thêu thay thế sẽ xuất hiện khi tay áo được gấp ngược lên.
Xem thêm: Nhà sáng lập Ninh Trà: “Học về trà bài bản tại Việt Nam là hành trình không dễ dàng”

Above Hỷ bào Penang trọn bộ áo và xiêm
Đặc biệt, ở Singapore và Malacca không mặn mà lắm hình tượng long vân trên hỷ bào mà ưu ái các đồ án hồ điệp, chim muông và hoa cỏ, mang lại cảm giác nhẹ nhàng hơn. Phần koon 裙 (xiêm), là dạng “mã diện 馬面” có xếp li truyền thống của phụ nữ Hán tộc. Hai mặt trang trí trung tâm trước-sau thường sử dụng bộ đôi Kỳ lân-Phụng hoàng chầu mẫu đơn. Cặp màu phổ biến nhất là áo đỏ (hoặc hồng) phối với xiêm cam.
Cuối cùng, một bộ vân kiên 雲 肩, tức tấm phủ vai, sẽ được vận lên cho cô dâu. Vân kiên phong cách Singapore-Malacca thường thêu lên tới 5 tầng rất hoành tráng. Trước ngực và sau lưng đính một cặp dây lụa cũng thêu thùa sặc sỡ, buông rũ từ mép vân kiên xuống, gọi là thùy lưu. Dọc sống lưng cô dâu treo thêm một dây tơ thắt bện nhiều màu, đính một tấm gương bát quái nhỏ tượng trưng cho sự bảo trợ của thánh thần trong ngày đại lễ.
Những trẻ em trong chính gia tộc hai bên có năm sinh bát tự phù hợp với cô dâu chú rể sẽ được chọn ra để “hộ tống” cặp đôi xuyên suốt ngày đầu tiên của lễ cưới, thông thường là một bé trai và một bé gái. Các em cũng sẽ được vận hỷ bào nhưng thường là phiên bản mini của đôi tân lang tân nương.
Để tăng phần long trọng, tân nương còn “làm duyên” bằng bimpo kemanten. Dù có nghĩa là khăn mặt cô dâu, nhưng đây một là tấm thêu cứng, được độn giấy – thực chất là hình ảnh một chiếc khăn ăn trầu xếp ngay ngắn đã được biểu tượng hóa chỉ cònchức năng trang trí. Bimpo kemanten đại diện cho phong tục trầu cau trong hôn lễ Peranakan, như ngầm nhắn nhủ dòng máu người Đông Nam Á vẫn đang chảy trong huyết mạch của vị tân nương.
Hỷ bào Penang

Above Đám cưới tại Penang giữa thế kỷ 20, tân lang và tân nương vận hỷ bào đặc trưng của địa phương
Tại Penang, loại đặc trưng nhất là hỷ bào (baju koon) đồng màu cả áo và xiêm, sử dụng các mảng trang trí cỡ lớn kích thích thị giác và đính nhiều kim sa (sequin) bằng đồng mạ vàng lấp lánh. Đôi lúc là hình ảnh con cá vàng hoặc hoa sen làm điểm nhấn giữa sóng nước hoàn toàn bằng kim tuyến, đôi lúc là các đường kẻ hoặc hình học vuông vức sắc cạnh được phân tách theo độ đậm nhạt. Hỷ bào ở Penang còn hay được viền bằng lông thỏ trắng tại các vị trí: cổ, viền cửa tay, viền hông và gấu áo, thậm chí là viền ở chiếc xiêm bên dưới. Quan niệm địa phương cho rằng thỏ là loài mắn đẻ, có yếu tố thỏ trên lễ phục sẽ là lời chúc “con đàn cháu đống” dành cho tới cặp uyên ương. Các sắc nổi bật nhất là áo màu cam ngọt lịm tựa như màu trái cau chín, sau đó là màu cẩm thạch.
Hỷ bào của tân lang tại thành phố này cũng đa dạng và biến hóa, nhưng nổi bật nhất là dạng áo giao lãnh (cổ chéo) phỏng theo đời Minh, cũng với cách thêu hoàn toàn bằng sợi kim tuyến như trang phục tân nương. Nếu như Singapore-Malacca có một đôi phù dâu-phù rể thì ở Penang, họ nâng lên thành 1 đôi phù dâu bên hữu, 1 đôi phù rể bên tả. Bốn đứa trẻ này thường sẽ được thiết kế các dạng áo riêng biệt, đơn giản hơn chứ không mặc phiên bản mini hỷ bào của cô dâu chú rể.
Hỷ bào Indonesia

Above Một đám cưới tại Indonesia với sự giao thoa trang phục tân nương từ Singapore, khoác thêm tấm áo Hà bí có đính tấm bổ tử (giống trên áo tân lang) ngoài hỷ bào, bên cạnh là phù dâu đeo vân kiên tròn
Sự tiến hóa của phục trang cưới tại Indonesia cho ra nhiều tổ hợp không đếm xuể. Tuy nhiên vẫn có một điểm chung là cộng đồng Baba Nyonya ở Indonesia rất ưa thích hỷ bào mang dáng dấp lễ phục của các quan lại mệnh phụ người Hán từ Đại Lục, đó là chú rể mặc bổ phục 補服, cô dâu mặc hồng mãng bào 紅蟒袍, quan lục quần 官綠裙. Phối màu của các mệnh phụ truyền thống tại Đại Lục như sau: đầu đội phụng quan, mặc áo bào tay rộng các sắc đỏ (hoặc hồng tím) thêu rồng, bên dưới mặc xiêm (tức quần 裙 – tương tự kiểu cách cô dâu Singapore-Malacca) các sắc xanh lá hoặc màu ngọc thạch. Xiêm cho thị trường Peranakan Indonesia thêu đa dạng tổ hợp phụng hoàng và rồng nên rất dễ nhầm lẫn với các hiện vật từ Trung Hoa, nhưng nếu chú ý, ta sẽ nhận ra còn có các hình thêu cua, cá, tôm, mực rất đặc trưng của miền hải đảo. Chưa dừng lại ở đó, họ dường như cho rằng quan phục như thế này vẫn còn cứng nhắc và “cổ lệ” quá, thế là chiếc vân kiên lại được khéo léo lồng ghép vào, tạo ra
một nét chấm phá duyên dáng cho tà áo tân nương.
Một số trường hợp, các gia đình xa hoa hơn còn may bổ tử lên áo tân nương, hoặc cá biệt, đặc chế tác thêm một áo hà bí 霞 đính bổ tử để cô dâu khoác ngoài, hệt như quy chế trang phục vào triều của các mệnh phụ người Hán nhà Thanh.

Above Tấm phi lĩnh (phủ vai chú rể) và bổ tử thêu toàn bộ bằng kim tuyến theo lối tekat, hiện vật sưu tầm tại Java
Chưa dừng tại đó, Indonesia cũng nổi tiếng với lối thêu kim tuyến địa phương và thêu cườm. Một số hiện vật được công bố và khảo qua các năm gần đây cho thấy có cả hỷ bào và xiêm, thậm chí là hà bí, được tạo tác hoàn toàn tại Indonesia. Dù cách lên rập may đo và đồ án trang trí đều đặc thù Trung Hoa, tổng thể của các tác phẩm này lại phản ánh đậm nét mỹ học Đông Nam Á.
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ, những hôn lễ truyền thống xa hoa 12 ngày giờ đây chỉ còn là ký ức về một thời hưng thịnh, nhưng sắc màu Peranakan vẫn lung linh như vầng nghê hồng soi trên từng nhịp sóng Nam Dương, giữ vẹn nguyên giá trị của một nền văn hóa đã bền bỉ kết tóc xe tơ cùng dòng chảy thời đại. Dẫu vật đổi sao dời, hỷ bào Peranakan vẫn là tấm gương phản chiếu một nền di sản liên văn hóa rực rỡ, nơi từng đường kim mũi chỉ cất lên khúc hoan ca của tình yêu và bản sắc. Những chiếc áo cưới ấy không chỉ khoác lên tân lang, tân nương vẻ huy hoàng trong ngày đại hỷ, mà còn gói ghém trong từng nếp gấm vóc cả câu chuyện dài về sự giao thoa, thích nghi và trường tồn.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam số tháng 02/2025




