Lần nào gặp gỡ, Trung Mai cũng xuất hiện như một tấm ảnh đen trắng tuyệt đối, từ màu tóc, tới trang phục và túi, giày. Giữa sự nhốn nháo, đa sắc và có phần tùy tiện của vỉa hè Hà Nội, diện mạo của Trung mang lại một cảm giác về sự tối giản và tĩnh lặng, thậm chí đôi lúc có cả trầm buồn
Sau nhiều năm tu nghiệp và làm việc tại những trung tâm kiến trúc có tên tuổi ở Paris hay Hannover, Trung trở về Hà Nội. Câu nói được trích dẫn nhiều lần trên truyền thông của kiến trúc sư sinh năm 1990 này “kiến trúc sư nào cũng cần một thành phố của mình, và hiện tại Hà Nội là thành phố của tôi” có lẽ thường gợi ra sự lãng mạn, hay một tình yêu hoài hương của người trí thức phương xa trở về. Nhưng Trung khiến tôi cảm thấy câu nói ấy dường như không còn là sự lãng mạn của một người mới về nước nữa, mà đã trở thành một hành trình rất cá nhân, pha lẫn sự thấu hiểu về thực tại không hề màu hồng của một người thực hành sáng tạo.
Đọc thêm: Home tour: Terrarium House - Ngôi nhà “biết thở” giữa lòng Bangkok
Mỗi thành phố cần một phác đồ trị liệu
Trò chuyện với Trung, tôi nhận ra anh không dành tình cảm cho Hà Nội theo cách của một nhà thơ hay một người hoài cổ. Trung yêu nó như người ta yêu một đứa trẻ đang gặp những vấn đề phức tạp về thể chất hay tinh thần. Đứa trẻ ấy không hoàn hảo, thậm chí đầy “bệnh lý”, nhưng chính vì thế mà nó cần sự hỗ trợ hơn một thực thể đã đẹp đẽ, khỏe mạnh và vẹn tròn. Lớn lên ở Hà Nội, từng sống ở khu tập thể Nghĩa Tân và cả trên phố cổ, Trung quan sát từng chuyển động siêu nhỏ trên đường phố, trong khu dân cư, và đặc biệt là trên vỉa hè – nơi nhiều người coi là sự lộn xộn phải dẹp bỏ. Đối với Trung, vỉa hè Hà Nội là một hệ sinh thái có hiệu năng đáng kinh ngạc. Anh so sánh nền kinh tế vỉa hè ở Hà Nội với cách các start-up công nghệ ở Thung lũng Silicon vận hành trong cách tối ưu hoá mọi nguồn lực nhàn rỗi, điều tôi chưa bao giờ mảy may mường tượng ra. Trung nói, mỗi mét vuông vỉa hè có thể là quán ăn sáng, bãi đỗ xe buổi trưa và quán trà đá buổi tối. Nó vận hành theo một cơ chế mà kiến trúc sư người Hà Nội này gọi là “thỏa thuận lâu dài” giữa những người sử dụng. Tính ngẫu hứng ad hoc ở đây không phải là sự thiếu kiểm soát, mà là một cơ chế tự thích nghi để tồn tại. Và việc cơ chế ấy hiện diện khắp nơi trong đời sống đô thị này thể hiện sự cần thiết của nó đối với đời sống của người dân.

Above Kiến trúc sư Trung Mai
Góc nhìn này gợi tôi nhớ đến những báo cáo trên CityLab về “Đô thị học không chính thức” (Informal Urbanism). Hà Nội không thiếu quy hoạch, nó chỉ có một hệ thống quy hoạch “ngầm” hiệu quả hơn những gì nằm trên giấy tờ. Công việc của Trung, thông qua dự án Hanoi Ad hoc, chính là lặn ngụp trong những “vụn vặt đô thị” (urban banalities) đó để tìm ra những quy luật ẩn giấu mang tính con người. KTS. Trung Mai không muốn xóa bỏ chúng để thay thế bằng những đại lộ thênh thang nhưng lạnh lẽo theo lối đô thị hoá thay thế của chủ nghĩa hiện đại; anh muốn hệ thống hóa chúng thành một ngôn ngữ kiến trúc có tính tùy biến và thích ứng hơn, nơi mà các tập tính đô thị được tìm thấy trong các tỷ lệ và chiều kích khác.

“Kiến trúc sư nào cũng cần một thành phố của mình, và hiện tại Hà Nội là thành phố của tôi”
Tuy nhiên, mặc dù không cổ vũ cho cách tiếp cận “đập đi, xây mới” trong việc tái thiết đô thị, KTS. Trung Mai cũng chia sẻ một góc nhìn rất lý tính và tỉnh táo của một người làm kiến trúc trên nền tảng nghiên cứu nhân học. Trong những cuộc thảo luận về bảo tồn đô thị, người ta thường đặt ra những câu hỏi và băn khoăn về tính nguyên bản của thành phố. Khi được tái thiết quá đà, khi các nơi chốn dần bị đồng phục hoá bởi các chuỗi thương hiệu lớn, liệu đó có phải là lúc một thành phố mất đi tính cách của mình? Khi trò chuyện về khía cạnh này, Trung đặt ngược lại vấn đề: “Authenticity với ai, trong bối cảnh nào?” Lấy ví dụ toà nhà Hàm Cá Mập ở Hồ Gươm, Trung diễn giải thêm, một công trình có thể là ký ức tập thể, là mối quan tâm, hay niềm gắn bó đối với thế hệ này nhưng chưa hẳn đã có ý nghĩa tương tự với một thế hệ khác. Đối với thế hệ cũ, Trung nói, sự biến mất của toà nhà có thể được nhìn nhận như một sự giải phóng, khôi phục lại không gian mở trước đó. Với thế hệ trưởng thành sau Đổi Mới, tòa nhà ấy lại là một ký ức quan trọng, chứng nhân cho một thời kỳ chuyển mình của đất nước. Còn đối với những người trẻ sau này, đó có thể đơn giản là biểu tượng của một đô thị sôi động và chủ nghĩa tiêu dùng.

Trong cuốn Naked City: The Death and Life of Authentic Urban Places, nhà xã hội học Sharon Zukin cũng từng nhận định: “Tính bản nguyên không phải là một trạng thái có thể phục hồi, mà là một quá trình sở hữu.” KTS. Trung Mai đồng ý với điều đó. Với anh, vấn đề cải tạo đô thị không nằm ở việc phục dựng quá khứ. Việc phá bỏ hay giữ lại một bức tường không phải dựa trên việc nó có “cổ” hay không, xấu hay đẹp (trong mắt của ai?) mà cần có cơ chế và nguyên tắc ra quyết định các vấn đề đô thị, cân nhắc đến nhiều biến số khác nhau. Trung không cổ súy cho việc phá bỏ công trình, cũng không tìm cách đóng băng thời gian; anh nghiên cứu đa chiều và liên ngành để các thế hệ có thể tiếp tục chiếm lĩnh không gian đó một cách tử tế. Đây cũng là cách KTS. Trung Mai tiếp cận với các di sản công nghiệp như Nhà máy xe lửa Gia Lâm – nhìn chúng như những thực thể sống cần được tiến hóa, thay vì những phế tích cần được bảo quản trong lồng kính.
Ứng xử với nguồn gốc văn hoá
Trung mang một sự thật thà đặc biệt của một trí thức trẻ từng làm việc ở nước ngoài, nơi thực hành kiến trúc có mối quan hệ sâu sắc và tương hỗ với việc nghiên cứu học thuật bài bản. Khi trở về, anh va chạm ngay lập tức với một thực tại khác: nơi không gian được định đoạt bởi lợi nhuận ngắn hạn và tốc độ khánh thành. Có một nghịch lý mà Trung không ngại ngần chia sẻ: Mảng nghiên cứu đô thị – vốn được coi là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” – lại đang là nguồn sống ổn định cho văn phòng của anh thông qua các quỹ tài trợ quốc tế. Trong khi đó, thực hành kiến trúc thực tế với các chủ đầu tư trong nước lại giống như một ván bài. “Làm dự án ở Việt Nam đôi khi khó hơn cả việc xin quỹ nghiên cứu từ các tổ chức quốc tế,” anh thú nhận. Ở thời điểm hiện tại, có lẽ các nhà đầu tư ở Việt Nam vẫn dành nhiều ưu tiên cho tiến độ, những phương án an toàn và dễ bỏ qua những bước nghiên cứu sâu. Để tìm được một chủ đầu tư cùng hệ giá trị, sẵn sàng hy sinh một phần diện tích thương mại để đổi lấy một “khoảng hở” nhân văn là điều hiếm hoi vô cùng. Đối với KTS. Trung Mai, kiến trúc là một ngành nghề có sự giao thoa giữa cả thiết kế, nghệ thuật và nghiên cứu xã hội. Tuy nhiên, anh cho rằng cách tính phí thuần tuý dựa trên mét vuông hoặc trên mức tổng đầu tư thay cân nhắc tới phí sáng tạo đối với những bản vẽ thiết kế kiến trúc đã đặt bản thân ngành nghề này ở vị trí gần với một nghề cung cấp dịch vụ hơn là thực hành kiến trúc như một nghề đòi hỏi tinh hoa. Sự giằng xé này không làm Trung nản lòng, nhưng nó buộc anh phải sòng phẳng với chính mình và tìm cách thích nghi với bối cảnh đó có ý thức mà vẫn giữ được hệ giá trị của bản thân.

Điểm gây ấn tượng mạnh nhất ở Trung có lẽ là cách anh “giải thiêng” sự đóng góp của mình. Anh bác bỏ hình ảnh người kiến trúc sư về nước để “cứu rỗi” đô thị hay mang những hào quang từ phương Tây về soi sáng cho quê nhà. “Mình nghĩ là mình đang khai thác nó, mình đang tận dụng bối cảnh này nhiều hơn là đóng góp,” Trung nói một cách sòng phẳng. Trung cho rằng Hà Nội cung cấp cho anh hay bất kỳ người làm sáng tạo nào đến từ Việt Nam nói riêng và những đất nước đang phát triển một chất liệu độc bản, một bối cảnh đầy xung đột và nghịch lý mà những thành phố ngăn nắp ở châu Âu không bao giờ có được. Trung tỉnh táo nhận ra rằng sự ghi nhận của quốc tế dành cho anh có một phần đến từ sự hiếu kỳ đối với các quốc gia đang phát triển. Anh không phủ nhận lợi thế tự nhiên này. Thay vì tự mãn với những giải thưởng, anh coi đó là một sự sử dụng văn hóa có ý thức – nơi người làm sáng tạo mượn chất liệu của cộng đồng để tạo ra giá trị, và sau đó tìm cách trả lại cho cộng đồng thông qua những cơ chế vận hành mới, có ý nghĩa và công bằng. Với Trung, người làm sáng tạo cần tỉnh táo để nhận ra họ đang tận dụng bối cảnh như một thứ nguyên liệu xa xỉ, trước khi đao to búa lớn về việc mình đang làm lợi cho cộng đồng. Sự sòng phẳng này chỉ là một trong số những sự thật trần trụi mà Trung thẳng thắn nói về nghề nghiệp của mình.
50% của kiến trúc sư, 50% của người sử dụng
Trong quan điểm của Trung, mối quan hệ giữa kiến trúc sư và người sử dụng là 50-50. Anh không tin vào việc kiến trúc sư có quyền năng định hình lối sống của con người một cách tuyệt đối theo kiểu “Kiến trúc định hình chúng ta”. Thay vào đó, anh chọn cách tiếp cận “ad-hoc”: tạo ra những cấu trúc có độ rỗng, có những khoảng lùi và sự dở dang có chủ đích để người dùng có thể tiếp tục hành vi ứng biến của họ. Ở những thành phố đã quá hoàn thiện và ổn định như Paris, một can thiệp kiến trúc giống như thêm một liều thuốc bổ cho một cơ thể đã khỏe mạnh – hiệu ứng không rõ rệt. Nhưng ở một Hà Nội “đang ốm”, đầy rẫy những đứt gãy và vết thương đô thị, một can thiệp nhỏ (acupuncture architecture – kiến trúc châm cứu) cũng có thể tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức xã hội. Một không gian công cộng nhỏ được cải tạo đúng cách có thể làm thay đổi cách cả một khu phố tương tác với nhau.

Khi được hỏi về Hà Nội của 20 năm tới, ánh mắt Trung không hiện lên vẻ mơ mộng về những tòa nhà chọc trời hay những đô thị thông minh. Anh mong chờ một Hà Nội mà ở đó, sự ngẫu hứng vẫn còn chỗ đứng nhưng được vận hành trong một khung nguyên tắc tử tế hơn. Công việc của anh tại Ad hoc Practice và Hanoi Ad hoc không phải là đi ngược lại dòng chảy của đô thị, mà là nỗ lực thiết lập một “phác đồ” tinh tế hơn cho đô thị này, cải thiện và cấu trúc lại những gì đang có và thuộc về căn tính đô thị, đặt nó vào những bối cảnh khác nhau. Anh chấp nhận những vết sẹo, những sự chắp vá, thậm chí là cả những “lỗi thẩm mỹ” nếu chúng mang lại công năng và nuôi dưỡng được ký ức của con người. Anh tin rằng, một thành phố thực sự sống không phải là thành phố hoàn hảo nhất trên bản vẽ, mà là thành phố cho phép cư dân của nó được tự do “ad-hoc” mỗi ngày.

Cuộc đối thoại kết thúc khi ánh hoàng hôn bắt đầu đổ xuống vỉa hè Hà Nội, làm nổi bật lên những mảng màu rực rỡ và lộn xộn thường nhật. Trung đứng dậy, đeo chiếc túi canvas đen lên vai, chuẩn bị hòa vào dòng người đông đúc trên phố chạy xe về khu tập thể nơi anh đặt văn phòng Ad hoc Practice và Hanoi Ad hoc. Sắc đen trắng của anh biến mất nhanh chóng trong sự hỗn độn của thành phố.
Có lẽ, đó cũng chính là cách Trung thực hành kiến trúc: không cố gắng trở thành một biểu tượng hay một mặt tiền kiến trúc lấp lánh trên diện mạo đô thị, mà nỗ lực trở thành một bộ khung âm thầm, một người điều phối không gian lặng lẽ. Người kiến trúc sư ấy cùng với cách tiếp cận ad-hoc của mình giúp cho sự ngẫu hứng của đô thị được vận hành một cách có phẩm giá hơn, giúp cho những người bình thường nhất cũng thấy mình có quyền được thuộc về và được biến đổi không gian sống của họ.

Trung Mai là kiến trúc sư, quy hoạch gia và giám tuyển kiến trúc, sáng lập Ad Hoc Practice và Hanoi Ad Hoc - hai cấu trúc song song: một tập trung vào thực hành kiến trúc, cấu trúc còn lại dành cho nghiên cứu và thực hành giám tuyển. Các công trình của anh đã được trưng bày tại Venice Architecture Biennale, bao gồm Triển lãm Quốc tế lần thứ 19 - Intelli(gens) do Carlo Ratti giám tuyển, cũng như tại Pavilion CH Pháp với chủ đề Living With. Anh là người ba lần đoạt giải cuộc thi kiến trúc châu Âu Europan (15, 16, 17) tại Tây Ban Nha, Ý và Pháp.
Nghiên cứu và thực hành của Trung Mai trong kiến trúc và đô thị học xem xét cái cách mà các quá trình chuyển đổi thông qua tái sử dụng thích ứng tạo tác đô thị, tính khả nghịch và sự tái cấu trúc kiến trúc trong kỷ Nhân sinh. Triết lý của anh tiếp cận đô thị chuyển tiếp và trí tuệ thích ứng của các điều kiện đô thị tự tổ chức, diễn giải “hỗn độn” đô thị và tính ad-hoc như những hình thức thương lượng không gian được đặt trong khung nhận thức luận của thực hành không gian Việt Nam - một phản ứng cho sự khan hiếm của môi trường sống hữu hạn. Bằng việc đề cao tính linh hoạt, khả năng thích ứng, tính hoán đổi và sự chuyển hóa gia tăng, anh nghiên cứu sự đan xen giữa không gian đô thị và gia cư, làm mờ ranh giới giữa công cộng, cộng đồng và riêng tư như một phương thức kiến tạo cấu trúc xã hội, nơi kiến trúc vượt lên trên việc cấu thành vật lý mà hơn cả là để nuôi dưỡng các hạ tầng xã hội. Thông qua chủ nghĩa khu vực phê bình và tính bền vững bản địa, anh đặt tính địa phương, tri thức khí hậu và thực hành sống như những công cụ giải thực dân hóa không gian và những khung tham chiếu cho khả năng chống chịu của tương lai.
Trung đã được ghi nhận và đề cử tại nhiều giải thưởng và cuộc thi quốc tế, bao gồm Giải thưởng Quốc tế 2025 của Royal Institute of British Architects (Anh), UIA World Congress of Architects 2026, Prince Claus Seed Award 2024, Tatler Most Influential 2025 do Tatler Asia bình chọn, IBA’27 – Internationale Bauausstellung’27, World Architecture Festival 2018, và Architizer A+ Award 2024 (Hoa Kỳ), cùng nhiều cuộc thi quốc tế như Cải tạo Khu công nghiệp DSK 500 tại Siberia (Nga), Công viên Văn hóa Đa chức năng bên sông Hồng tại Hà Nội, và Cuộc thi Quốc tế ASA’15 tại Thái Lan.
Dự án The Grid, chuyển đổi một nhà máy xe lửa cũ tại Hà Nội thành nền tảng trao đổi xã hội và văn hóa, đã được đưa vào Hanoi Festival of Creativity and Design do UNESCO tổ chức. Tác phẩm của anh cũng được trưng bày tại Triển lãm Kiến trúc Quốc tế lần thứ 19 của Venice Architecture Biennale, tại Architekturmuseum der TU München, Haus der Kulturen der Welt (HKW), và Chicago Architecture Biennial 2025.
Anh là người nhận tài trợ nghiên cứu đa niên từ Friedrich-Ebert-Stiftung (FES), Pro Helvetia, UNESCO, Goethe-Institut và Institut Français, hỗ trợ cho cả nghiên cứu lý thuyết và thực hành.
Bài viết đăng tải từ bài gốc trên ấn phẩm Tatler Vietnam số tháng 03/2026
ĐỌC NGAY
Thanh bình, thân thuộc và tĩnh lặng: Tư duy thiết kế của kiến trúc sư Ngô Việt Khánh Duy
“Bigness” - Siêu kiến trúc từ những vận động của thời đại
Tết-Ta: 16 tuyệt tác nội thất lấy cảm hứng từ “chiến mã” cho năm Bính Ngọ
Credits
Photography: Le Lai




