Không chỉ nhập khẩu, Việt Nam còn là nơi khởi nguồn của những vùng trà cổ thụ lâu đời

Trong địa hạt ẩm thực đương đại, trà ngày càng được nhắc đến như một ngôn ngữ gắn liền với những khái niệm như “nguyên bản”, “truyền thống” hay “tự nhiên”  – những giá trị đang được tìm lại trong xu hướng hiện đại. Nhiều đầu bếp ngày nay đã chọn trà Việt như một chất liệu để tái hiện lại câu chuyện về non nước, quê hương, về lối sống thanh đạm và cả những hành trình cá nhân của họ đến với vùng cao. Và cái nôi của trà Việt chính là những vùng trà cổ thụ trên các dãy núi xa xôi và sâu thẳm.

Dưới làn sương mỏng của buổi sớm Tây Bắc, những sườn núi trập trùng và không gian mênh mông tĩnh lặng, có những gốc trà cổ thụ trầm mặc vươn mình qua thế kỷ. Trà Việt nhẫn nại giữ trong mình những tinh túy của đất trời và non sông. Nép mình dưới tán rừng già hay rải rác ven sườn đá phủ rêu phong, các gốc trà cổ ấy âm thầm vươn lá qua thế kỷ, gom sương, góp gió, tích hồn đất trời trong từng búp non. Mỗi vùng trà là một câu chuyện, giọng kể riêng thầm thì bằng hương vị và hậu ngọt sâu lắng như chính mạch văn hóa của người Việt. 

Bài viết này là lời mời trở về với những vùng trà cổ xưa của người Việt, để qua chén trà nóng, ta lại bắt gặp chính mình trong chiều sâu của truyền thống và văn hóa xưa.

Xem thêm: Matcha Omakase: Khi cơn sốt thức uống Nhật Bản nâng tầm thưởng thức của các tín đồ Hà thành

Trà cổ Suối Giàng (Yên Bái)

Ở độ cao hơn 1300 mét, nơi tầng mây lững lờ vắt ngang lưng núi, trà Suối Giàng hiện ra với nét cổ xưa của trà Việt. Những cây trà Shan tuyết đại cổ thụ tại đây mọc hoang dại giữa rừng già, có tuổi đời hàng vài trăm năm, thậm chí cả ngàn năm với bộ rễ ăn sâu vào lòng đất, hút lấy tinh túy của trời đất. Đặc trưng nhất là mỗi búp trà đều được bao phủ bởi một lớp lông tơ trắng mịn như sương, khiến người ta ví von như tuyết đang đọng trên đỉnh núi.. 

Trà Suối Giàng mang một hương thơm độc đáo “ngàn năm có một”, dịu ngọt như sương sớm rừng già, không quá nồng nàn mà thoang thoảng hương gỗ lẫn man mác hương hoa cỏ. Vị chát nhẹ nhàng ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho hậu vị ngọt thanh, mềm mại và lan tỏa nơi cuống họng.

Tatler Asia
Above Ảnh: Pinterest

Khi pha, nước trà có sắc vàng óng như mật ong non, trong vắt và phản chiếu ánh sáng tựa như bầu trời miền sơn cước thu nhỏ. Giới sành trà ưu ái gọi loại trà này là “tinh linh của núi”, không chỉ bởi hương vị độc đáo mà còn vì cảm giác thanh sạch, hư ảo và thiêng liêng mà nó mang lại.

Trà cổ Tà Xùa (Sơn La)

Trên độ cao hơn 1500 mét, nơi biển mây phủ quanh năm như một tấm khăn choàng của núi, Tà Xùa hiện lên huyền bí như một miền cổ tích giữa đại ngàn Tây Bắc. Những gốc trà Shan cổ thụ nơi đây không được trồng theo cách thông thường, mà mọc tự nhiên dọc các sườn núi, chen giữa mây ngàn và rừng rậm. Những cây trà này như những người già thông thái, âm thầm hút dưỡng chất từ đất đai, khí trời để tích tụ trong từng búp trà những thanh khí của non cao.

Trà cổ Tà Xùa nổi tiếng bởi hậu vị đậm sâu. Khác với các vùng trà cổ khác, trà Tà Xùa mang hương thơm vô cùng mạnh mẽ. Vị trà khởi đầu bằng chút đắng nhẹ, ngai ngái nhưng ngay sau đó là hậu vị ngọt đậm êm ái. Hương trà mang nét thanh sạch, tinh khiết, thoảng chút hương gỗ, hoa rừng và sương sớm. Nước trà có màu vàng óng như áng nắng chiều. 

Tatler Asia
Above Ảnh: Unplash

Điều đặc biệt là lượng tanin trong trà cổ Tà Xùa rất thấp, nên dù đậm vị, trà vẫn dễ uống và không để lại cảm giác chát. Đó là lý do vì sao loại trà này được giới chơi trà yêu thích khi muốn tìm đến cảm giác thiền định, tĩnh tại giữa đời sống hiện đại ồn ã. Từng chén trà Tà Xùa mang nét đặc trưng Tây Bắc, mời gọi người uống trở về với sự tĩnh lặng nguyên sơ như chính nơi nó sinh ra. 

Trà cổ Phìn Hồ (Hà Giang)

Nằm ở vùng núi cao thuộc huyện Hoàng Su Phì - địa danh nổi tiếng với những thửa ruộng bậc thang ngoạn mục, Phìn Hồ không chỉ làm say lòng du khách bởi cảnh sắc thiên nhiên, mà còn vì những gốc trà Shan cổ thụ mọc rải rác trên độ cao 1200 - 1700 mét. Những cây trà nơi đây chủ yếu sinh trưởng tự nhiên, rễ cắm sâu vào tầng đất giàu khoáng chất, khí hậu lạnh và độ ẩm cao quanh năm giúp lá trà tích tụ được dưỡng chất quý giá.

Xem thêm: “Ủ” - Khi phương pháp lên men kể chuyện trong căn bếp Việt

Trà cổ Phìn Hồ được biết đến bởi vị thanh dịu tựa như sương sớm đầu ngày. Khi pha, nước trà có màu xanh trong, không gắt mà thanh mát, đượm hương cỏ cây và đất trời. Mỗi ngụm trà như đưa người thưởng thức bước vào một không gian nguyên sơ, nơi thời gian dường như lắng lại giữa những rặng núi trùng điệp.

Tatler Asia
Photo: Fin Ho Tra
Above Ảnh: Fìn Hồ Trà
Tatler Asia
Photo: Fin Ho Tra
Above Ảnh: Fìn Hồ Trà
Photo: Fin Ho Tra
Photo: Fin Ho Tra

Điều làm nên sự đặc biệt của trà Phìn Hồ là ở cách chế biến hoàn toàn thủ công theo truyền thống của người Dao địa phương. Từ việc hái trà vào lúc sớm tinh mơ lúc lá còn đẫm sương, cho đến công đoạn sao trà bằng tay trên chảo gang, mọi bước đều được thực hiện tỉ mỉ, cẩn trọng. Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc, quy trình chế biến truyền thống này giúp giữ lại hàm lượng polyphenol cao và các hợp chất chống oxy hóa, mang lại giá trị sức khỏe cao cho trà. 

Trà cổ Khe Cốc (Thái Nguyên)

Nằm nép mình giữa những triền núi phía Bắc Thái Nguyên - vùng đất được mệnh danh là “thủ phủ chè Việt”, Khe Cốc là một kho tàng trà cổ với những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Khí hậu nơi đây mát mẻ quanh năm, độ cao trung bình khoảng 500 - 800 mét, cùng với thổ nhưỡng giàu sét và mùn đã tạo điều kiện lý tưởng cho cây trà phát triển.Chính nhờ thiên nhiên ưu đãi, lá trà nơi đây trở nên đậm hương, giàu dưỡng chất và đặc biệt chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa tự nhiên.

Trà cổ Khe Cốc mang sắc vị thanh mát và ngọt dịu đặc trưng, ít chát và ít tanin, phù hợp để làm trà xanh cao cấp, đặc biệt là trà nõn tôm - loại trà làm từ những búp non nhất, có hình dáng nhỏ xinh, cong cong như mũi tôm. Khi pha, nước trà trong vắt, màu xanh ánh vàng, hương thơm thoảng nhẹ như mùi cốm mới và thoảng chút mùi lá rừng sau mưa. Vị trà không gắt, không chát đắng, không quá đậm như các loại trà mạn mà êm ái, ngọt hậu, làm dịu đi cả những ngày oi ả nhất của miền Bắc. 

Tatler Asia
Above Ảnh: Pinterest

Theo các khảo sát địa phương và công bố của Trung tâm Phát triển Nông nghiệp Thái Nguyên, các cây chè cổ tại Khe Cốc chủ yếu thuộc giống Shan tuyết cổ bản địa, được người dân địa phương bảo tồn qua nhiều thế hệ. Điều này không chỉ tạo ra một dòng trà quý mà còn góp phần giữ gìn đa dạng sinh học trong vùng trung du phía Bắc. 

Từ Suối Giàng ngát hương sương sớm, Tà Xùa gió núi thẳm sâu, đến Phìn Hồ trầm mặc như khúc ngâm của người Dao từ thưở xa xưa hay Khe Cốc tinh khiết; có thể thấy mỗi vùng trà là một di sản, minh chứng cho sự bền bỉ của văn hóa trà Việt giữa bao đổi thay. Những cây trà hàng trăm nghìn năm tuổi, mọc giữa mây trời, thấm đẫm khí thiêng sông núi. Chúng sống chậm trong rừng già, để từng lá non gói trọn tiết trời bốn mùa.