Trải qua bao thăng trầm dâu bể, áo ngũ thân đã từng lặng lẽ lui về dĩ vãng, nhường bước cho tà áo dài mềm mại, duyên dáng quen thuộc ngày nay. Sự thay đổi ấy không chỉ là một thước phim về sự chuyển mình của dáng áo, đường kim, mũi chỉ, mà còn là dấu hiệu của một sự chuyển biến sâu xa trong quan niệm thẩm mỹ, vai trò xã hội và cách người Việt gìn giữ - hoặc rời xa - những khuôn phép cũ
“Áo lụa xưa bay qua mùa gió cũ, dắt em về một thuở rất xa xôi”.
Sau năm 1975, trong bối cảnh đất nước giành được độc lập và đời sống đổi thay từng ngày, áo dài bước vào một giai đoạn mới: không còn chỉ là trang phục lễ nghi hay học đường, mà trở thành biểu tượng văn hóa, đồng thời cũng phản ánh những thay đổi âm thầm trong tâm hồn người Việt. Bài viết này xin được lần theo bước đi của tà áo, từ dáng vẻ khuôn thước của áo ngũ thân đến tà áo dài “tân thời”, để nhìn lại những khác biệt tinh tế trong hình thức, chất liệu, cũng như ý niệm văn hóa đằng sau sự chuyển mình ấy.
Xem thêm: Legacy 50: Hồi ức từ trái tim của họa sĩ Hà Huy Chương qua những bức tranh cổ động
Đôi lời về nguồn gốc “áo ngũ thân”
Ngược dòng thời gian, chúa Nguyễn Phúc Khoát năm Giáp Tý 1744 đã ấn định ra thức áo “nhu bào”, hay còn gọi là “trách tụ đoản y” (áo ngắn, tay chít) làm trang phục toàn dân từ vùng Thuận Quảng về trong. Theo các tài liệu và tranh vẽ đương thời, ta thấy đây là dạng áo cổ trụ, hẹp tay, ngắn tà (chỉ đến trên gối hoặc giữa đùi), mặc cùng quần ống. Với kết cấu mang nhiều điểm trùng khớp, giới nghiên cứu nhận định “nhu bào” chính là tiền thân của áo ngũ thân về sau.
Sang triều Nguyễn, sau hai lần ban thánh dụ của vua Minh Mạng vào năm 1827 và 1837, hai cõi Bắc - Nam mới chính thức ăn vận chung một dạng thức y trang. Một đoạn tài liệu rất quý giá về việc hoàng đế Minh Mạng ban thánh dụ ấn định “áo ngũ thân” thành quốc phục” Việt Nam đã được nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang dẫn trong một bài viết năm 2021, rằng (ảnh):

Above Dã sử lược biên, Đại Việt quốc Nguyễn triều thực lục, mục Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ký, tờ 75a, ký hiệu: R.1676, Thư viện quốc gia Việt Nam
Dịch: Lại quy định về chế độ y phục: cấm đàn ông không được mang khố, đàn bà không được mặc váy (xiêm) và áo tứ thân. [Dân chúng] đều phải dùng quần chân [quần 2 ống chân] và áo ngũ thân (tức gọi là quần chân áo chít bắt đầu vào lúc này). Ấy là noi theo mệnh lệnh [cải đổi y phục] do Thế Tông Hiếu Võ hoàng đế [chúa Nguyễn Phúc Khoát] ban hành tại Thuận Hóa năm xưa (tức là [chúa Nguyễn Phúc Khoát điều lệnh cho nam nữ trong nước [toàn cõi Nam Hà] đều mặc áo khoác ngắn mỏng (nhu bào), quần ống xuyên (xuyên thường), vấn khăn đội đầu (triền cân); cùng nhà cửa đại để như thế chế Minh Thanh, để triệt để tách hẳn khỏi tập tục [ăn mặc] cũ của Bắc Hà)]. Y phục chia rạch ròi giữa Nam [lúc này] phong tục Nam Bắc ấy trở nên đồng nhất, rõ ràng là một quốc gia văn vật áo mũ vậy).
Đọc thêm: Legacy 50: Di sản 30/4 qua hồi ký của nhà ngoại giao Nguyễn Thị Bình

Above Áo ngũ thân của tầng lớp thượng lưu triều Nguyễn, may bằng đoạn trang hoa vân cẩm dệt xen ngân tuyến (sợi bạc). BST La Quốc Bảo. Ảnh: La Quốc Bảo.
Cho đến ngày triều đình Huế cáo chung vào 1945, áo ngũ thân về cơ bản vẫn giữ lại cấu trúc nguyên thuỷ từ 100 năm trước. Xuyên suốt giai đoạn hoàng triều, dù không được đề cập chính thức trong các văn bản của nhà Nguyễn, tà áo ngũ thân vẫn được ngầm hiểu là “Quốc phục”. Minh chứng là các ấn phẩm báo chí như Hà Thành ngọ báo, Phụ nữ tân văn vẫn hay gọi tà áo ngũ thân bằng “quốc phục”, hay “áo ta”, “áo Nam”, “Nam phục”, vv nhằm phân biệt với Âu phục được người Pháp đưa vào Việt Nam.
Xem thêm: Legacy 50: Những dòng họ vàng son và hậu duệ tiếp nối trong dòng chảy di sản Việt Nam
Đặc điểm của một chiếc áo ngũ thân “xưa”

Above Gia đình tại miền Nam mặc áo ngũ thân cuối thế kỷ 19
Được xem là trang phục của toàn dân, tấm áo ngũ thân cũng đa dạng về kỹ thuật tạo tác và chất liệu dựa trên nhu cầu sử dụng và tầng lớp xã hội. Ngoài hai dạng thức là áo tay chẽn (hẹp tay, sử dụng hầu như trong mọi hoàn cảnh) và áo tay thụng (nay quen gọi áo tấc, dành cho lễ tiết), kết cấu áo ngũ thân phải thoả mãn các tiêu chí như:
+ Áo may từ 5 thân vải (cách hiểu phổ biến nhất hiện nay là 2 thân trước, 2 thân sau, 1 thân con).
+ Áo may cổ trụ; cổ áo nam (thường 4-5 cm) cao hơn cổ áo nữ (thường 2.5 - 3 cm)
+ Áo có 5 nút, một ngay chân cổ áo, một ở bên ngực phải và ba ở dưới nách áo, tạo thành hình chữ “quảng 广“.
+ Dáng áo hình chuông (giống chữ A) để khi mặc lên hai tà khép lại bên hông. Tà trước dài hơn tà sau khoảng 5-10 cm để trừ hao phần ngực. Cả hai tà đều vát cong chứ không may thẳng một đường ngang.
+ Áo ghép sống (đường trung phùng) ở giữa bởi tính chất vải xưa dệt khổ nhỏ. Giai đoạn sau ta có vải ngoại nhập khổ to nên nhiều áo không còn ghép sống, đặc biệt giai đoạn 1945-1975. Cho dù hình dáng vẫn mang vẻ xưa nhưng không thể gọi là ngũ thân vì vốn dĩ áo không còn đủ “năm” thân.
Bước chuyển đầu tiên của áo ngũ thân đầu thế kỷ 20

Above Mệ Bông - Nguyễn Thị Cẩm Hà và phu quân tại Huế trước 1945. Có thể thấy sự chênh lệch giữa tỉ lệ độ dài vạt áo nam và nữ
Dưới sự ảnh hưởng của làn sóng Âu phục và văn hoá Tây phương, người Việt Nam bắt đầu có cái nhìn cởi mở hơn với việc điều chỉnh áo ngũ thân, hướng tới sự tiện nghi và linh hoạt. Chất xúc tác lớn nhất có lẽ là quy cách mặc áo ngũ thân bắt buộc phải có một áo lớp bên trong, đôi khi người ta nóng quá lại thay bằng áo bà ba. Làm phép tính đơn giản, nếu chồng tất cả lớp vải, kể cả tà con thì nửa thân phải của người mặc phải chịu ít nhất 4 lần vải, và sẽ là 6 nếu áo ngoài có may lót, chắc chắn là rất nóng. Minh chứng rõ ràng nhất là ở hai miền Bắc - Nam các năm 1920s-1930s đã xuất hiện nhiều hiện vật vải mỏng nhẹ, tà con ẩn bên trong rút thật ngắn, chỉ còn ⅔, thậm chí chỉ còn một nửa so với độ dài truyền thống. Điều này giúp áo bớt đi 1-2 lớp vải, độ thoải mái cũng tăng đáng kể, đặc biệt vào các mùa nắng nóng.
Above “Áo dài” theo dáng ngũ thân, có thu eo hồi thập niên 1940 của ông Hội đồng Nguyễn Hữu Dư (Sóc Trăng). Ảnh: Nguyễn Duy Linh
Đồng thời, áo ngũ thân cũng bắt đầu có xu hướng may hơi chít eo dù không quá rõ. Nếu trước đây, áo được may thật dài, tận dụng tối đa lượng vải, vừa tạo vẻ nghiêm cẩn, vừa khoe sự giàu sang thì nay chỉ còn các bà các cô ưng cái lối ấy, các quý ông ba miền lại nhất nhất chung một xu hướng là rút ngắn độ dài vạt áo đặng mà phù hợp di chuyển đó đây.
Những bước ngoặt ấn tượng

Above Nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hiền trong tà áo gấm may bởi tiệm Dung Đakao (Sài Gòn) vào thập niên 1950
Từ phần này trở đi, tôi xin phép gọi những ví dụ sau là “áo dài”. Trò chuyện với nhà sưu tập áo dài tân thời Nguyễn Thị Thu Hiền (Canada), ta sẽ cùng điểm lại một số sự kiện quan trọng của tiến trình tân thời hóa chiếc áo ngũ thân triều Nguyễn thành dạng áo hiện đại, hướng tới sự tiện lợi, phóng khoáng, thoát li khỏi những ý niệm ràng buộc xưa cũ, và không thể bỏ qua sự khẳng định tính cá nhân vốn dĩ không tồn tại ở áo ngũ thân. Cũng nói rõ thêm, từ những năm giữa thế kỷ 20, nam giới hầu như đều chuộng veston Âu châu. Chẳng còn mấy ai chuộng chiếc “áo ta” trừ những trong dịp trọng đại, tế lễ, hay ở miền Thừa Thiên cung vua phủ chúa. “Một quốc gia thường được ví như người phụ nữ, đất nước sinh ra những đứa con, đất nước cần được bảo vệ. Và ai sẽ là người bảo vệ? Chính là những người con trai mạnh mẽ anh hùng.” Đó là lý do tại sao đàn ông Việt khi đó có thể mặc veston nhưng phụ nữ thì “không thể sử dụng quần áo của phụ nữ Pháp, mà phải ăn mặc sao cho phù hợp với vai trò là những người mẹ của đất nước mình.” - theo cô Martina Nguyễn - PGS môn Lịch sử tại trường Baruch thuộc City University of New York.
1. Áo Lemur, hay áo Nguyễn Cát Tường:

Above Kiểu cách Lemur

Above Cô Nguyễn Thị Hậu - người đầu tiên vận thiết kế áo dài Lemur
Dù đã manh nha vào hồi 1929, nhưng phải tới 1934 trên tờ Phong Hoá, những thiết kế táo bạo, được đánh giá là lai căng Tây-Ta dị thường của danh hoạ Lemur, tức Nguyễn Cát Tường mới “quậy đục nước” dư luận, được ví như phát súng đầu tiên của phong trào cách tân áo dài. Bộ sưu tập của ông gạt phăng những bộ phận đặc trưng của chiếc áo ngũ thân như cổ trụ, tà con vì được cho là “bất tiện” và lồng ghép rất có chủ đích những sáng tạo và chất liệu rất “Tây” như nơ, nhúng bèo, ống tay loe, v.v. Tuy có phần lùm xùm giới mộ điệu là vậy, nhưng các thiết kế của ông như mang đến luồng sinh khí mới cho phụ nữ nước nhà, và tạo tiền đề cho phong trào cải lương y áo từ Bắc chí Nam mạnh dạn hơn.
2. Tay áo raglan

Above Bà Lê Thị Lan (khoảng đầu thập niên 1950) vận áo dài may tay raglan
Một ký ức gắn liền với Sài Gòn phải nhắc đến chiếc áo dài Raglan. Dù từng xuất hiện đầu thập niên 1950 nhưng người ta cho rằng nhân vật lăng xê cái mốt này thành một biểu tượng là ông Đỗ Thành (1918-1970) - chủ nhà may Dung Đakao, tọa lạc bên chợ Đakao ở số 146 - 148 đường Đinh Tiên Hoàng. Chiếc áo dài Raglan khắc họa rõ nét sự chuyển mình của áo dài truyền thống với thiết kế độc đáo kết hợp tinh tế kỹ thuật may ráp tay raglan xéo vai trong Âu phục nhằm hạn chế nhăn vải, mang đến vẻ thanh lịch mà không làm mất đi tính thoải mái. Sự ra đời của áo dài Raglan, cùng với chiếc áo nịt ngực, đã lan tỏa phong trào thời trang tân hoá trong xã hội.
3. Áo cổ thuyền

Above Ảnh: Daniel Winn

Above Kiều Chinh (trái), Thẩm Thuý Hằng (phải) trong tà áo cổ thuyền
Độ chục năm về trước, khi cụm từ “áo ngũ thân” vẫn còn lạ lẫm thì khi nhắc về áo dài xưa, chắc chắn sẽ có nhiều người nhắc đến áo bà Nhu, hay áo Trần Lệ Xuân với thiết kết cổ thuyền (cổ khoét) ấn tượng. Có nhiều nguồn tin thực hư về sự ra đời của mốt áo này, nhưng sự kiện sớm nhất được ghi nhận là “nhân dịp khai mạc triển lãm nữ công tại Cô nhi viện Nữ Vương Hòa Bình (số 215 đường Hiền Vương, Sài Gòn ) ngày 6-12-1958, bà đã xuất hiện với chiếc áo cô hở, tay đeo găng trắng lịch sự (Hình ảnh Việt Nam số 22, tháng 1/1959)”. Bà cho rằng mẫu áo “không cổ, ngắn tay” rất tiện, hợp nhãn ăn mặc quốc tế, lại tôn vinh phần cổ cao quý phái và bờ vai quyến rũ của người phụ nữ, nên nhiệt tình lăng xê thành một huyền thoại của lịch sử may mặc Việt Nam.
Áo dài sau 1975

Above Hiện vật áo dài Hà Nội may đầu thập niên 1980 nhưng giữ nguyên theo lối áo cuối thập niên 1960. BST La Quốc Bảo. Ảnh: La Quốc Bảo.
Trước 1954, ba miền Bắc-Trung-Nam vẫn coi áo dài là trang phục thường ngày, mặc cho hầu hết mọi dịp. Tuy nhiên sau đó, tình hình chính trị-xã hội rối ren nên áo dài không còn xuất hiện nhiều tại miền Bắc nữa mà thường dành cho cưới hỏi, giao lưu trao đổi văn hoá, hay hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Sự tiến hoá của áo dài tại đây có thể nói đã chững lại cho tới tận ngày thống nhất. Thậm chí, các lối ráp tay áo (ráp giữa cánh tay chứ không may raglan) và may cúc của thập niên 1950 vẫn tiếp tục được áp dụng cho tới đầu thập niên 1980.
1. Áo dài chịu ảnh hưởng của phong trào hippy

Xuất hiện vào cuối những năm 1960, những chiếc đã hòa quyện sâu sắc với trào lưu văn hóa thời trang Hippie có nguồn gốc từ Mỹ. Sang thập niên 1980s, áo dài mang phong cách hippie đặc trưng với vạt áo thọn gọn với vạt áo thon gọn, ngắn đến đầu gối, thân áo được thiết kế rộng rãi, ôm nhẹ theo dáng người mà không chít eo, rất thoải mái thoải mái. Cổ áo thấp, trong khi quần được may dài, ống rộng lên đến 60 cm, hoặc phối hợp cùng quần tây “phá cách”. Chất liệu mềm mại như cotton hoặc lụa với các họa tiết độc đáo, hình học hay mảng màu khổ lớn sống động càng làm tăng thêm nét phóng khoáng và tự do cho trang phục. Áo dài chịu ảnh hưởng của phong trào hippy đã trở thành biểu tượng văn hóa của sự đổi mới và đã giữ được sức hấp dẫn của mình cho đến giữa thập niên 1990. Chỉ sau đó vài năm, các quý cô bắt đầu chuộng tà dài hơn, ôm người hơn, chiếc áo dài hiện đại từ đây mà hình thành.
2. Sự vắng bóng của tà áo dài cao sang

Above Ca sĩ Cẩm Vân diện áo dài trong những buổi diễn thập niên 1980
Sau năm 1975, hình ảnh áo dài ít còn được thấy trên cả nước vì nó không còn là đồng phục của nữ sinh. Một phần khi giữa biến đổi thời cuộc, người ta cho rằng cách may cầu kì là biểu hiện của sự xa xỉ, tốn kém, có phần lạc hậu nên dần dà cũng không còn ai dám mặc áo dài ra đường như xưa. Mãi tới tận thập niên 1980, phong trào đưa áo dài trắng vào nhà trường được khởi xướng như làn mưa xuân tưới rộ những tia hi vọng về sự tồn vong của thức áo từng được xem là quốc phục nước Nam. Trong đó phải kể đến cuộc thi Hoa hậu Áo dài đầu tiên năm 1989 đã gây tiếng vang khắp mọi miền đất nước, chiếc áo dài lại từng bước quay về trong đời sống người dân, dù lúc này chỉ còn là nữ phục.

Above Ca sĩ Cẩm Vân diện áo dài trong những buổi diễn thập niên 1980
3. Áo dài cộng sinh cùng nghệ thuật đương đại:
Sau thống nhất, kinh tế còn nhiều bất cập, các hình thức trang trí mới trên áo dài rộ lên tại các nhà may nhỏ lẻ, như: đính cườm, thêu tay, thêu rô-đê (thêu máy) và vẽ. Các nhân vật gắn liền với nghệ thuật vẽ áo dài nổi bật phải kể đến Sỹ Hoàng (Sài Gòn), hay Thái Bá (Huế), đều từng được tán dương trong những năm thập niên 1980 - 1990.
4. …Đến áo dài hiện đại:
Từ sau năm 1990, áo dài không ngừng biến hóa, khoác lên mình những dáng vẻ mới lạ, đôi lúc phóng khoáng, đôi lúc phá cách ngoài khuôn thước xưa. Nhưng trong cuộc rẽ lối ấy, không ít lần tà áo đánh rơi những nét tinh tế từng làm nên vẻ đẹp truyền thống. May thay, mười năm gần đây, làn sóng yêu cổ phục đã lặng lẽ trở lại. Áo ngũ thân, cùng những chuẩn mực cũ, đang thì thầm thức dậy trong lòng người trẻ, như một lời nhắc dịu dàng rằng: bản sắc chỉ đẹp hơn khi ta biết trân trọng gốc rễ của mình.
Topics




