Tiến sĩ Phượng, người vừa được Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay vinh danh, đã đấu tranh suốt đời mình vì sứ mệnh đòi lại công lý cho những người bị ảnh hưởng bởi Chất độc màu da cam. Đây là giải thưởng vinh danh những tinh thần vĩ đại trong việc phục vụ quên mình người dân châu Á
Từ năm 1955 đến năm 1975, Chiến tranh Việt Nam đã tàn phá đất nước, cướp đi sinh mạng của khoảng 3,8 triệu người và khiến 5 triệu người bị thương hoặc phải di dời. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng bóng ma của cuộc xung đột vẫn còn ám ảnh. Đối với một số người, nỗi đau không chỉ dừng lại ở chiến tranh mà còn tiếp tục từ trong bụng mẹ – một lời nguyền do Chất độc màu da cam mang lại.
Chất độc màu da cam, một loại thuốc diệt cỏ mạnh được quân đội Hoa Kỳ sử dụng như một phần trong chiến lược làm rụng lá và loại bỏ nơi ẩn náu của Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt, đã gây ra những hậu quả khôn lường. Phun từ máy bay và trực thăng, mục tiêu ban đầu là phơi bày lực lượng địch. Tuy nhiên, sự thật tàn nhẫn là chất dioxin có trong Chất độc màu da cam - 2,3,7,8-tetrachloro-dibenzo-para-dioxin (TCDD) - đã để lại một tác động vô cùng tai hại và kéo dài, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ con cháu.
Nguyễn Thị Ngọc Phượng, một bác sĩ sản phụ khoa từng làm việc trong thời kỳ chiến tranh, đã chứng kiến tận mắt những dị tật bẩm sinh nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh và bị ảnh hưởng sâu sắc. Ban đầu, bà không hiểu nguyên nhân, nhưng càng tìm hiểu, bà càng nhận ra sự tàn phá mà Chất độc màu da cam đã gây ra. Giờ đây, ở tuổi 80, bác sĩ Phượng đã được vinh danh với Giải thưởng Ramon Magsaysay danh giá, nhờ vào những cống hiến không mệt mỏi trong việc khám phá sự thật về Chất độc da cam, tìm kiếm công lý cho các nạn nhân, và hỗ trợ những người bị ảnh hưởng qua nghiên cứu và công tác của bà với Hiệp hội Nạn nhân Chất độc da cam/Dioxin Việt Nam (VAVA).
Có thể bạn quan tâm: Nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh: “Tôi muốn kể câu chuyện Việt Nam với thế giới”

Above Máy bay UC 123K của Không quân Hoa Kỳ phun thuốc diệt cỏ/thuốc diệt cỏ nhiễm dioxin Chất độc màu da cam vào khu vực đồng bằng, trong biện pháp phòng thủ chiến tranh Việt Nam (Ảnh: Getty Images / Dick Swanson)

Above Đào Văn Lợi, 69 tuổi, bế con gái Đào Thị Mai, 28 tuổi, người sinh ra với những vấn đề phát triển và khuyết tật nghiêm trọng. Ông cho biết mình đã bị phơi nhiễm chất độc da cam nhiều lần. Những ký ức về Chiến tranh Việt Nam dần mờ nhạt, nhưng những người Việt từng bị phơi nhiễm chất độc da cam và các hóa chất chứa dioxin trong suốt cuộc chiến vẫn đang phải đối mặt với những tác động về sức khỏe. Ảnh: Kuni Takahashi/ Getty Images
Khi còn là thực tập sinh, lần đầu tiên trong đời tôi đỡ đẻ một đứa bé bị dị tật nghiêm trọng - không có não và không có tay chân. Đó là một trải nghiệm kinh hoàng đối với tôi, nó khiến tôi cảm thấy khó chịu tận cùng, nôn mửa và cơ thể run rẩy.

Above Lê Văn Khánh, 38 tuổi (bên trái) đứng cạnh mẹ anh là Nguyễn Thị Huyền. Ngày 8 tháng 3 (ngày Quốc tế Phụ nữ), tại Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Lê Văn sinh ra bị điếc, thiểu năng trí tuệ với đôi chân bị biến dạng, anh phải ngồi xe lăn hầu hết thời gian và người mẹ già của anh không thể đảm đương trách nhiệm chăm sóc đứa con trai khuyết tật của mình. Họ chỉ biết rằng Chất độc màu da cam mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đã gây ra điều này. Ảnh: Getty Images / Paula Bronstein

Above Các y tá đang cho trẻ em bị dị tật bẩm sinh có cha mẹ tiếp xúc với Chất độc màu da cam ăn tại một khu dành riêng cho trẻ em tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Getty Images / Christophe Calais/Corbis
Những đứa trẻ Chất độc màu da cam
“Khi còn là thực tập sinh, lần đầu tiên trong đời tôi đỡ đẻ một đứa bé bị dị tật nghiêm trọng - không có não và không có tay chân. Đó là một trải nghiệm kinh hoàng đối với tôi, nó khiến tôi cảm thấy khó chịu tận cùng, nôn mửa và cơ thể run rẩy. Và người mẹ trẻ sợ hãi đó thế nào? Cô ấy đã bị sốc khi nhìn thấy đứa con của mình,” Tiến sĩ Phượng nói trong cuộc phỏng vấn với Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay, kể lại trải nghiệm của bà vào năm 1968. “Kể từ đó, cứ mỗi một hoặc hai ngày, tôi lại chứng kiến những dị tật bẩm sinh như vậy và nỗi đau khổ của những người mẹ. Nhưng trong nhiều năm, tôi không biết nguyên nhân gây ra những sự kiện bi thảm này.”
Điều mà bà không biết lúc đó là, từ năm 1962 đến năm 1970, hơn 45 triệu lít Chất độc màu da cam đã được rải khắp miền Trung và miền Nam Việt Nam. Hóa chất này, được pha chế ở nồng độ mạnh hơn tới 20 lần so với nồng độ được sử dụng trong nông nghiệp thông thường, không chỉ giết chết mọi loại cây mà nó chạm vào trong vòng hai ngày, mà chất dioxin chứa trong nó còn ngấm vào nguồn nước, làm ô nhiễm thêm cá và gia súc. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ước tính rằng 4,8 triệu người đã tiếp xúc với dioxin, trong đó có ít nhất 3 triệu người bị ảnh hưởng - bao gồm khoảng 150.000 trẻ em ở thế hệ thứ hai, thứ ba và thậm chí thứ tư.
Có liên bạn quan tâm: Minh Nguyễn: Phụ nữ hiện đại có thể lãnh đạo phát triển bền vững

Above Một người mẹ bế đứa con gái nhỏ của mình tại một bệnh viện ở Hà Nội, nơi đứa trẻ đang được điều trị dị tật bẩm sinh. Cha của đứa trẻ, một người lính Bắc Việt, đã tiếp xúc với Chất độc màu da cam do quân đội Hoa Kỳ rải trong Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Getty Images / Bettmann
Trong những năm sau Chiến tranh Việt Nam, các bác sĩ Việt Nam bắt đầu nhận thấy một sự gia tăng bất thường các dị tật bẩm sinh, ung thư và các vấn đề sức khỏe khác ở những khu vực bị phun rải chất độc màu da cam. Mặc dù ban đầu chỉ là những câu chuyện mang tính chất truyền miệng, nhưng những quan sát này đã mở đường cho các nghiên cứu chính thức về tác động của dioxin đối với sức khỏe con người. Bác sĩ Phượng và các đồng nghiệp của bà đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ghi chép lại những trường hợp đau lòng này.
Bác sĩ Phượng chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn: “Có năm loại dị tật bẩm sinh rất phổ biến ở Việt Nam, nhưng lại hiếm gặp, thậm chí không có ở các quốc gia khác. Đó là dị tật ống thần kinh, dị tật về sự phát triển của đầu và não, song sinh dính liền, dị tật các cơ quan cảm giác, hở môi và hở hàm ếch, cùng với các dị tật về chân tay như thiếu tay, thiếu chân”. Bà tiếp tục: “Chúng tôi thấy nhiều trường hợp như vậy ở Việt Nam, nhưng chúng cực kỳ hiếm ở những quốc gia khác, kể cả Philippines hay các nước Đông Nam Á khác. Điều đó cho thấy có một yếu tố đặc biệt nào đó ở Việt Nam đã gây ra những dị tật này.”
Tiến sĩ Phượng, người đã đưa công trình nghiên cứu của mình lên tầm cao mới và trở thành giám đốc Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, đã thực hiện những nghiên cứu sâu rộng, bao gồm các nghiên cứu hồi cứu, khảo sát và nghiên cứu ca chứng. Bà tiến hành đo nồng độ dioxin trong mô mỡ của những người sống ở các khu vực bị phun rải chất độc, so sánh với nồng độ ở những khu vực không bị ảnh hưởng. Bà giải thích: “Những phát hiện của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở nhóm dân số bị phơi nhiễm cao hơn ít nhất bốn lần so với những người không bị phơi nhiễm”. “Những nghiên cứu này đã được công bố ở các quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Pháp.”

Above Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, người được Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay (RMAF) vinh danh, đã tiến hành nghiên cứu về Chất độc màu da cam (Ảnh: RMAF)
Một cuộc chiến không chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm, mà còn trên trường quốc tế
Ngoài công trình nghiên cứu của mình, Tiến sĩ Phượng còn là người ủng hộ nổi bật cho các nạn nhân Chất độc màu da cam. Đối với bà, cuộc chiến không chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm mà còn trên trường quốc tế. Ở quê nhà, bà đã tham gia Hiệp hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA), một nhóm người tìm kiếm trách nhiệm giải trình về thiệt hại do chất độc da cam gây ra.
“Kể từ khi VAVA ra đời, tôi đã là thành viên và hiện đang giữ chức phó chủ tịch của hiệp hội. Tôi cũng là thành viên của nhóm đối thoại với Hoa Kỳ, bao gồm năm thành viên từ cả Hoa Kỳ và Việt Nam. Vai trò của tôi là tập trung vào các nạn nhân của Chất độc màu da cam”, bà nói.
Ở nước ngoài, bà đã đấu tranh với Hiệp hội Y tế Công cộng Hoa Kỳ và ủng hộ hành động pháp lý chống lại các công ty hóa chất. “Chúng tôi hợp tác với nhóm Đối thoại Hoa Kỳ và thông qua những nỗ lực của mình, chúng tôi đã nhận được một số sự hỗ trợ từ họ. Họ đã nêu lên những vấn đề về Chất độc màu da cam tại Hoa Kỳ, làm việc thông qua các tòa án Hoa Kỳ và với các luật sư Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của chúng tôi, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận các đề xuất hoặc khiếu nại của chúng tôi”, bà báo cáo.
Mặc dù chính phủ Hoa Kỳ đã phân bổ hơn 197 triệu USD tiền bồi thường cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ tiếp xúc với Chất độc màu da cam, nhưng việc bồi thường cho công dân Việt Nam lại gặp phải nhiều khó khăn. Đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa đưa ra lời xin lỗi chính thức hoặc thừa nhận trách nhiệm về việc sử dụng Chất độc màu da cam trong chiến tranh.

Above Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phương, người được Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay (RMAF) vinh danh, làm việc với Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA). Ảnh: RMAF
Cuộc đấu tranh vẫn đang tiếp diễn

Above Trong Thị Thu, một bà mẹ đơn thân, đang ôm con gái mình, Trong Thị Kiev, 17 tuổi, người bị mù và điếc. Là một người mẹ, chị Thu phải đối mặt với thử thách lớn khi vừa chăm sóc con gái vừa kiếm sống để nuôi gia đình. Nhiều gia đình như vậy không có cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, và thậm chí không hiểu được các thuật ngữ y khoa để chỉ tình trạng khuyết tật mà con cái họ phải đối mặt ngay từ khi mới sinh. Họ chỉ biết rằng chất độc da cam mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đã gây ra những dị tật này. Ảnh: Getty Images / Paula Bronstein
Vẫn còn nhiều định kiến và rào cản xã hội đối với những người khuyết tật. Chính vì vậy, chúng ta cần phải giáo dục cả cộng đồng địa phương lẫn thế giới về tác động của Chất độc màu da cam.
Hành trình này đầy gian nan, nhưng Tiến sĩ Phượng vẫn không ngừng nỗ lực giảm bớt sự kỳ thị mà các nạn nhân Chất độc da cam phải đối mặt. “Nếu bạn có dịp đến thăm Việt Nam và chứng kiến Làng Hòa Bình, bạn sẽ gặp rất nhiều trẻ em khuyết tật. Mặc dù đối diện với những thách thức không nhỏ, các em vẫn tìm thấy niềm vui và tiếp tục tận hưởng cuộc sống của mình,” bà chia sẻ.
“Chúng tôi hiểu rằng vẫn còn tồn tại sự kỳ thị và những rào cản xã hội lớn đối với những người khuyết tật. Chính vì thế, chúng ta cần phải giáo dục không chỉ cộng đồng địa phương mà cả thế giới về những tác động lâu dài của Chất độc màu da cam đối với sức khỏe và sinh nở. Việc giáo dục này vô cùng quan trọng, bởi nó sẽ góp phần giảm bớt sự kỳ thị và thúc đẩy sự hòa nhập của các nạn nhân vào xã hội,” bà nhấn mạnh.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng cũng lưu ý rằng việc điều trị và vận động cho những người bị ảnh hưởng bởi Chất độc da cam mang đến vô vàn thử thách phức tạp. Các vấn đề sức khỏe liên quan đến phơi nhiễm với TCDD vô cùng đa dạng, nghiêm trọng và khó chẩn đoán. Những căn bệnh này thường không có phương pháp điều trị hiệu quả, đòi hỏi sự chăm sóc chuyên môn lâu dài và tốn kém.
Bà cũng chia sẻ rằng việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, vẫn còn nhiều hạn chế. “Nhiều nạn nhân phải đối mặt với các rào cản nghiêm trọng như thiếu cơ sở y tế gần nơi cư trú, khó khăn về tài chính và thiếu chuyên gia có kiến thức về tác động của Chất độc màu da cam đối với sức khỏe. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã nỗ lực trang bị máy siêu âm cho các làng, giúp phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh trong thai kỳ. Điều này giúp chúng tôi có thể tư vấn và hỗ trợ các bà mẹ và gia đình ngay từ những ngày đầu,” bà chia sẻ.

Above Trẻ em khuyết tật trước tuổi đi học đang chơi đùa cùng giáo viên tại trường đặc biệt Thanh Tâm. Hơn 30 năm sau chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến vẫn đang diễn ra để giúp đỡ những người đang phải chịu đựng hậu quả của Chất độc màu da cam. Ảnh: Getty Images / Paula Bronstein
Tiến sĩ Phượng thừa nhận rằng một trong những thách thức lớn nhất trong công việc của bà là duy trì các nỗ lực, cả về mặt y tế lẫn tài chính. “Nâng cao nhận thức về những tác động lâu dài của Chất độc da cam và đảm bảo sự hỗ trợ cần thiết - bao gồm cả y tế và tài chính cho các nạn nhân vẫn là một rào cản đáng kể. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng để bảo vệ quyền lợi và nguồn lực mà những nạn nhân này xứng đáng nhận,” bà chia sẻ.
Bà cũng cho biết thêm: “Chăm sóc cho những nạn nhân này là một quá trình lâu dài và chúng tôi cần sự hỗ trợ, tài trợ và hợp tác liên tục từ nhiều bên liên quan, bao gồm các tổ chức phi chính phủ và các đối tác quốc tế.”
Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, Tiến sĩ Phương vẫn cảm thấy tự hào về những tiến bộ mà nhóm của bà và Hiệp hội Nạn nhân Chất độc màu da cam/Dioxin Việt Nam (VAVA) đã đạt được. “Chúng tôi đã cải thiện được việc điều trị y tế, và nhận thức cũng như sự công nhận về vấn đề này trong nước đã tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều việc phải làm, và chúng tôi vẫn cam kết không ngừng nỗ lực để giải quyết các thách thức này, bảo vệ những người bị ảnh hưởng bởi Chất độc màu da cam,” bà khẳng định.
Mặc dù lịch sử đã chứng kiến những thời khắc đen tối của nhân loại, nhưng chính cam kết bền bỉ và sự kiên trì của Bác sĩ Phượng trong việc chữa lành và đấu tranh cho công lý là nguồn động viên lớn lao, mang lại hy vọng cho những nạn nhân của Chất độc màu da cam.
Bài viết này là một phần của chuyên mục Business of Good - Loạt bài Khám phá cách các nhà lãnh đạo toàn cầu thúc đẩy sự thay đổi và giải quyết các vấn đề phức tạp của thời đại thông qua các giải pháp bền vững và sáng tạo.
Những câu chuyện mới có thể được tìm thấy vào mỗi thứ Tư hàng tuần trên TatlerAsia.com.
Bài viết được chuyển ngữ từ bài viết gốc “Generations after the Vietnam War, the fight to uncover Agent Orange continues” của Jove Moya, đăng trên Tatler Philippines
Credits
Images: Ramon Magsaysay Awards Foundation (RMAF). Ảnh: Getty Images
Topics




